Không chỉ tinh gọn đầu mối, cách làm này còn hướng đến tập trung nguồn lực, tăng cường lực lượng bám rừng, nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị tài nguyên rừng.
Tập trung lực lượng, không để trống địa bàn
Hơn 487.800 ha rừng và đất lâm nghiệp được đặt dưới sự quản lý của Ban Quản lý rừng phòng hộ Gia Lai, thay vì 29 đầu mối như trước đây. Cùng với đó, 11 trạm quản lý, bảo vệ rừng được bố trí theo địa bàn, tạo mạng lưới trực tiếp bám rừng.
Theo đề án sắp xếp, Ban Quản lý rừng phòng hộ Gia Lai được thành lập trên cơ sở hợp nhất 29 ban quản lý rừng phòng hộ trên địa bàn tỉnh, trực thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường. Đơn vị mới có hơn 400 viên chức, người lao động, được giao quản lý diện tích rừng và đất lâm nghiệp trải rộng trên địa bàn tỉnh.
Việc tổ chức lại theo các trạm quản lý, bảo vệ rừng nhằm duy trì lực lượng trực tiếp bám địa bàn, đồng thời tạo điều kiện tập trung nhân lực, phương tiện và nguồn lực cho những khu vực có diện tích rừng lớn, địa hình phức tạp. Các trụ sở ban quản lý cũ được chuyển đổi thành các trạm trực thuộc, qua đó tiếp tục duy trì sự phối hợp với chính quyền cơ sở trong quản lý, bảo vệ rừng.
Đơn cử, Ban Quản lý rừng phòng hộ Bắc An Khê, Ya Hội và xã Nam được hợp nhất thành Trạm quản lý, bảo vệ rừng số 4, quản lý hơn 20.000 ha rừng. Nếu trước đây các đơn vị hoạt động riêng lẻ với lực lượng khá mỏng, nay lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách của trạm được bố trí hơn 30 người, tạo điều kiện tổ chức tuần tra, kiểm soát trên địa bàn hiệu quả hơn.
Tương tự, Trạm quản lý, bảo vệ rừng số 7 được hình thành trên cơ sở hợp nhất Ban quản lý rừng phòng hộ Ia Grai và Đức Cơ, quản lý gần 40.000 ha rừng. Hay các Ban quản lý rừng phòng hộ Đak Đoa, Mang Yang và Hà Ra được sắp xếp thành Trạm quản lý, bảo vệ rừng số 5 quản lý, bảo vệ hơn 40.000 ha rừng.
Ông Hồ Ngọc Thọ - Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Gia Lai cho biết, đây là mô hình tổ chức hoàn toàn mới, với địa bàn quản lý rộng và khối lượng công việc lớn. Vì vậy, nhiệm vụ trước mắt là nhanh chóng ổn định tổ chức, tiếp nhận bàn giao, phân công nhiệm vụ cụ thể, bảo đảm không để xảy ra khoảng trống trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.
“Việc bố trí các trạm theo địa bàn được kỳ vọng giúp lực lượng quản lý tiếp tục bám rừng, kịp thời phát hiện, xử lý các vụ việc phát sinh và phối hợp chặt chẽ hơn với chính quyền địa phương. Trước mắt, chúng tôi nhanh chóng ổn định bộ máy, tiếp nhận bàn giao và từng bước tháo gỡ những khó khăn trong thời gian qua” - ông Thọ nói.
Cùng với ổn định tổ chức, Ban Quản lý rừng phòng hộ Gia Lai sẽ tập trung tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp, khai thác lâm sản trái phép; đồng thời đẩy nhanh tiến độ trồng rừng năm 2026 và nâng cao đời sống người lao động, nhất là lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng.
Đồng thời, đơn vị tiếp tục xây dựng định hướng phát triển tín chỉ carbon và đề án du lịch sinh thái; hoàn thiện điều tra, kiểm kê rừng giai đoạn 2024-2026 và chuẩn hóa số liệu phục vụ công tác quản lý. Một nhiệm vụ quan trọng khác là rà soát, tháo gỡ những bất cập về đất lâm nghiệp, từng bước giải quyết tình trạng chồng lấn mốc giới giữa các đơn vị quản lý rừng trước đây.
Từ quản lý đến phát huy giá trị rừng
Cùng với việc tổ chức lại hệ thống quản lý rừng phòng hộ, UBND tỉnh cũng quyết định thành lập Ban quản lý Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh trên cơ sở sáp nhập Ban quản lý rừng đặc dụng An Toàn và Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng.
Đơn vị mới quản lý hơn 82.629 ha rừng và đất lâm nghiệp, trong đó có hơn 78.531 ha rừng tự nhiên. Việc hợp nhất tạo điều kiện quản lý thống nhất những khu rừng liền vùng, liền khoảnh và cùng hệ sinh thái, qua đó nâng cao hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học và phát huy giá trị tài nguyên rừng.
Theo ông Ngô Văn Thắng - Giám đốc Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh, việc kiện toàn tổ chức nhằm thực hiện chủ trương sắp xếp, tinh gọn bộ máy, giảm đầu mối trung gian, sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực, đồng thời bảo đảm công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng được duy trì liên tục, ổn định.
Mô hình mới cũng tạo điều kiện để đơn vị xây dựng các phương án quản lý rừng bền vững trên quy mô lớn, ưu tiên nguồn lực cho lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ tại hiện trường. Cùng với đó, việc ứng dụng khoa học - công nghệ, cơ sở dữ liệu, bản đồ số và công nghệ viễn thám trong theo dõi, giám sát diễn biến rừng sẽ được đẩy mạnh, góp phần nâng cao năng lực quản trị.
Đối với Ban Quản lý rừng phòng hộ Gia Lai, việc tập trung quản lý trên diện tích lớn cũng mở ra dư địa để phát triển các giá trị kinh tế từ rừng theo hướng bền vững. Bên cạnh nhiệm vụ bảo vệ rừng, đơn vị đang hướng đến trồng rừng gỗ lớn, phát triển dịch vụ môi trường rừng, tín chỉ carbon và du lịch sinh thái, qua đó tạo thêm nguồn lực đầu tư trở lại cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Trao đổi với phóng viên, ông Cao Thanh Thương - Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho rằng, việc sắp xếp các ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ được thực hiện theo chủ trương của Trung ương và của tỉnh, nhằm tinh gọn đầu mối, rà soát, tinh giảm biên chế theo quy định, đồng thời hình thành các đơn vị quản lý rừng có quy mô phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Theo ông Thương, sau khi tổ chức lại, nhiệm vụ quan trọng trước mắt là củng cố, kiện toàn và nhanh chóng ổn định hoạt động của các đơn vị. Đối với Ban Quản lý rừng phòng hộ Gia Lai, Sở yêu cầu rà soát, nắm chắc diện tích, loại rừng đang quản lý; xác định rõ diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm và những khu vực có dự án chồng lấn để đề xuất giải pháp xử lý, nâng cao hiệu quả quản lý.
“Sở cũng giao Ban Quản lý rừng phòng hộ Gia Lai xây dựng đề án trồng rừng gỗ lớn gắn với chiến lược phát triển rừng bền vững; nâng cao tỷ lệ che phủ rừng, từng bước phát triển thị trường tín chỉ carbon, qua đó nâng cao giá trị của rừng. Đồng thời, tăng cường bảo vệ rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn, khu vực biên giới, ven biển, góp phần phát triển rừng bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu” - ông Thương nhấn mạnh.
Sắp xếp lại tổ chức chỉ là bước khởi đầu. Hiệu quả của mô hình mới sẽ được đo bằng khả năng giữ rừng, xử lý những tồn tại về đất lâm nghiệp, nâng chất lượng rừng và tạo thêm giá trị từ tài nguyên rừng. Đây cũng là thước đo để mô hình quản lý tập trung phát huy hiệu quả thực chất trong thời gian tới.