Quy định hỗ trợ đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
(GLO)- Việc hỗ trợ đất đai đối với cá nhân là người dân tộc thiểu số được quy định tại khoản 3 Điều 16 Luật Đất đai.

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 102/2024/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1-8-2024.

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 102/2024/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai. Ảnh: Phạm Quý

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 102/2024/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai. Ảnh: Phạm Quý

Theo đó, Nghị định số 102/2024/NĐ-CP quy định chi tiết, nêu rõ, việc hỗ trợ đất đai đối với cá nhân là người dân tộc thiểu số quy định tại khoản 3 Điều 16 Luật Đất đai thực hiện như sau:

Đối với trường hợp không còn đất ở thì được giao đất ở hoặc được chuyển mục đích sử dụng đất từ loại đất khác sang đất ở; người sử dụng đất được miễn tiền sử dụng đất đối với diện tích trong hạn mức giao đất ở theo quy định của UBND cấp tỉnh.

Trường hợp thiếu đất ở so với hạn mức giao đất ở thì được chuyển mục đích sử dụng đất từ loại đất khác sang đất ở và được miễn tiền sử dụng đất đối với diện tích trong hạn mức giao đất ở.

Đối với trường hợp không còn đất nông nghiệp hoặc diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng không đủ 50% diện tích đất so với hạn mức giao đất nông nghiệp của địa phương thì được giao tiếp đất nông nghiệp trong hạn mức. Nghị định quy định rõ trách nhiệm của UBND cấp xã, UBND cấp huyện trong việc hỗ trợ đất đai đối với cá nhân là người dân tộc thiểu số.

Nghị định quy định rõ trách nhiệm của UBND cấp xã, UBND cấp huyện trong việc hỗ trợ đất đai đối với cá nhân là người dân tộc thiểu số. (Ảnh tư liệu)
Nghị định quy định rõ trách nhiệm của UBND cấp xã, UBND cấp huyện trong việc hỗ trợ đất đai đối với cá nhân là người dân tộc thiểu số. (Ảnh tư liệu)

Cụ thể, UBND cấp xã rà soát và lập danh sách các trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 16 Luật Đất đai báo cáo UBND cấp huyện trước ngày 15-10 năm.

Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức đo đạc, xác định diện tích và thu hồi đất đối với các trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 16 Luật Đất đai, gồm các trường hợp vi phạm chính sách về đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số, các trường hợp đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất theo quy định tại khoản 3 Điều 16 Luật Đất đai mà không còn nhu cầu sử dụng đất.

Ủy ban nhân dân cấp huyện lập phương án hỗ trợ đất đai đối với cá nhân là người dân tộc thiểu số trên cơ sở quỹ đất quy định tại khoản 4 Điều 16 Luật Đất đai. Nội dung phương án phải nêu rõ các trường hợp được hỗ trợ, diện tích hỗ trợ, hình thức hỗ trợ đất đai đối với cá nhân là người dân tộc thiểu số.

Ủy ban nhân dân cấp huyện trình UBND cấp tỉnh quyết định diện tích giao đất, cho thuê đất để thực hiện chính sách hỗ trợ đất đai đối với cá nhân là người dân tộc thiểu số phù hợp với tình hình thực tế và quỹ đất của địa phương theo quy định tại khoản 5 Điều 16 Luật Đất đai.

Kinh phí quy định tại khoản 8 Điều 16 Luật Đất đai được bố trí từ nguồn ngân sách địa phương và các nguồn vốn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật, trường hợp địa phương không tự cân đối được ngân sách thì UBND cấp tỉnh báo cáo Bộ Tài chính để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Thủ tục thu hồi đất do vi phạm pháp luật đất đai

Theo Nghị định, thu hồi đất đối với người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước thực hiện như sau:

Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước quy định tại khoản 6 Điều 81 Luật Đất đai là trường hợp người sử dụng đất không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất mà đã bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cưỡng chế thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật về quản lý thuế nhưng không chấp hành thì cơ quan quản lý thuế có văn bản đề nghị thu hồi đất.

Thu hồi đất đối với người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước. (Ảnh minh họa)

Thu hồi đất đối với người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước. (Ảnh minh họa)

Cơ quan Thuế có trách nhiệm gửi thông báo trường hợp nêu trên kèm theo tài liệu có liên quan đến cơ quan có chức năng quản lý đất đai để làm thủ tục trình cấp có thẩm quyền thu hồi đất.

Điều kiện thu hồi đất do vi phạm pháp Luật Đất đai quy định tại Điều 81 Luật Đất đai

Theo Nghị định, trường hợp hành vi vi phạm phải xử phạt vi phạm hành chính thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về kiến nghị thu hồi đất do người sử dụng đất vẫn tiếp tục vi phạm, cơ quan có chức năng quản lý đất đai trình cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất quy định tại Điều 83 Luật Đất đai.

Đối với các hành vi vi phạm không phải xử phạt vi phạm hành chính thì việc thu hồi đất được tiến hành sau khi có kết luận của cơ quan thanh tra, kiểm tra có thẩm quyền về trường hợp phải thu hồi đất.

Sau khi nhận được văn bản và tài liệu của cơ quan có thẩm quyền, trong thời hạn 30 ngày cơ quan có chức năng quản lý đất đai lập hồ sơ thu hồi đất trình UBND cấp có thẩm quyền thu hồi đất.

Hồ sơ gồm: Tờ trình về việc thu hồi đất; Dự thảo Quyết định thu hồi đất theo Mẫu số 01d tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này; Các tài liệu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền chuyển đến.

Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ, UBND cấp có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo thu hồi đất cho người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (nếu có). Người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có trách nhiệm xử lý tài sản trên đất theo thời hạn quy định tại thông báo thu hồi đất kể từ ngày nhận được thông báo thu hồi đất nhưng không quá 45 ngày, trừ trường hợp quy định (*) dưới đây.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn thông báo thu hồi đất, UBND cấp có thẩm quyền có trách nhiệm ban hành quyết định thu hồi đất và chỉ đạo việc tổ chức thực hiện quyết định thu hồi đất. Trường hợp người sử dụng đất không chấp hành thì bị cưỡng chế thi hành quyết định thu hồi đất.

Người có đất thu hồi có trách nhiệm chấp hành quyết định thu hồi đất; thực hiện bàn giao đất, giấy tờ về quyền sử dụng đất cho cơ quan, người có thẩm quyền được quy định tại quyết định thu hồi đất.

Trách nhiệm của UBND cấp có thẩm quyền: Thông báo việc thu hồi đất cho người sử dụng đất và đăng trên cổng hoặc trang thông tin điện tử của UBND cấp tỉnh, cấp huyện; chỉ đạo xử lý phần giá trị còn lại của giá trị đã đầu tư vào đất hoặc tài sản gắn liền với đất (nếu có) theo quy định của pháp luật; chỉ đạo UBND cấp huyện tổ chức cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất theo quy định tại Điều 39 Nghị định này; bố trí kinh phí thực hiện cưỡng chế thu hồi đất.

Đối với việc xử lý tài sản trên đất, giá trị tài sản còn lại của người có đất thu hồi, Nghị định nêu rõ, trường hợp thu hồi đất theo quy định tại khoản 6 Điều 81 Luật Đất đai thì số tiền sử dụng đất thu được từ bán đấu giá quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất (nếu có) sau khi trừ đi các chi phí cưỡng chế, tổ chức đấu giá theo quy định được nộp ngân sách nhà nước để thanh toán nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất, số tiền còn lại được hoàn trả cho người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thu hồi.

Trường hợp thu hồi đất theo quy định tại khoản 7 Điều 81 Luật Đất đai thì trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày có quyết định thu hồi đất theo quy định, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thu hồi được thực hiện bán tài sản theo quy định của pháp luật. Khi hết thời hạn nêu trên, người sử dụng đất thu hồi không thực hiện được việc bán tài sản của mình gắn liền với đất thì Nhà nước không bồi thường đối với tài sản gắn liền với đất.

Chủ sở hữu tài sản phải tự tháo dỡ tài sản trả lại mặt bằng cho Nhà nước theo thời hạn ghi trong quyết định thu hồi đất, trường hợp không thực hiện thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền cưỡng chế thu hồi đất theo quy định.

Trường hợp nhà đầu tư mua lại tài sản gắn liền với đất của người có đất thu hồi thì được Nhà nước giao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật. (*)

Có thể bạn quan tâm

Không được chăm sóc, bảo vệ, 62 ha chè ở Biển Hồ dần xơ xác, nhiều diện tích chết khô, xuống cấp và bị một số người dân đào trộm về làm cảnh.

62 ha chè Biển Hồ trước nguy cơ lụi tàn

(GLO)- Từng là biểu tượng du lịch của Pleiku với những đồi chè xanh mướt trải dài bên hàng thông trăm tuổi, 62 ha chè ở Biển Hồ (xã Biển Hồ, tỉnh Gia Lai) nay đang dần xơ xác, nhiều diện tích chết khô.

Khi phụ nữ trở thành hạt nhân xây dựng buôn làng

Khi phụ nữ trở thành hạt nhân xây dựng buôn làng

(GLO)- Những “Làng phụ nữ kiểu mẫu” đang trở thành điểm sáng trong xây dựng nông thôn mới ở nhiều buôn, làng vùng sâu ở Gia Lai. Không chỉ tiên phong giữ gìn vệ sinh môi trường, xây dựng cảnh quan xanh - sạch - đẹp, nhiều chị em còn tiên phong phát triển kinh tế, gìn giữ bản sắc văn hóa.

Chung tay vì người nghèo

Chung tay vì người nghèo

(GLO)- Từ sự chung tay của chính quyền, đoàn thể, doanh nghiệp và cộng đồng, những căn nhà Đại đoàn kết, nhà tình thương được triển khai trên địa bàn Gia Lai không chỉ giúp hộ nghèo, gia đình khó khăn “an cư” mà còn lan tỏa tinh thần tương thân tương ái, tiếp thêm động lực để người dân vươn lên.

Sáng mãi nghị lực nữ cựu chiến binh

Sáng mãi nghị lực nữ cựu chiến binh

(GLO)- Rời quân ngũ, từ hai bàn tay trắng, nhiều nữ cựu chiến binh tiếp tục phát huy bản lĩnh, bền bỉ gây dựng cơ nghiệp, vượt qua biến cố, lan tỏa nghĩa tình bằng những việc làm thiết thực, giữ vững phẩm chất người lính Cụ Hồ giữa đời thường.

Các mô hình sản xuất hiệu quả được triển khai tại xã An Lão đã tạo ra động lực giúp đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên thoát nghèo bền vững.

An Lão ưu tiên nguồn lực cho công tác giảm nghèo

(GLO)- Những năm qua, xã An Lão (tỉnh Gia Lai) đã tập trung triển khai nhiều giải pháp giảm nghèo bền vững, phát huy hiệu quả các mô hình sản xuất và nguồn vốn tín dụng chính sách, giúp người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số từng bước vươn lên, ổn định cuộc sống.

null