Chuyến đi không chỉ là cuộc hành trình về nguồn, mà còn là cuốn ký sự sống động được lật mở qua từng lời kể, từng giọt nước mắt và ký ức vẹn nguyên của những người lính năm xưa.
Suốt dọc đường đi, không khí trên xe luôn ấm áp bởi sự hiện diện của các cô chú cựu chiến binh. Mỗi người một câu chuyện, họ tái hiện lại một thời gian khổ mà hào hùng. Chúng tôi nhớ mãi sự tinh anh của chú Nguyễn Đức Chương, chú Nguyễn Văn Tùng và đặc biệt là sự ân cần, ấm áp của chú Đoàn Minh Phụng - nguyên Tổng Biên tập Báo Gia Lai. Bằng giọng kể trầm ấm của một người từng đi qua cuộc chiến, các cựu chiến binh như chiếc cầu nối đưa chúng tôi ngược dòng thời gian, chạm vào những mảng ký ức thiêng liêng của vùng đất anh hùng này.
Đón chúng tôi hôm nay không còn là một vùng đất hoang tàn do bom đạn năm xưa mà là một làng A Sanh tràn ngập sức sống mới. Hai bên đường, những rẫy điều xanh ngắt nối đuôi nhau chạy tít tắp đến chân trời. Thấp thoáng giữa những ngôi nhà khang trang là các khu vườn sầu riêng, chôm chôm đang vào mùa cho trái ngọt. Ngành nông nghiệp đã mang lại nguồn thu nhập cao và ổn định, làm thay đổi hoàn toàn diện mạo của ngôi làng Nú xưa, nay là làng mang tên anh hùng A Sanh.
Điểm dừng chân gây xúc động nhất là bến đò A Sanh huyền thoại bên dòng Pô Kô. Trái với sự tĩnh lặng của quá khứ, dòng Pô Kô hôm nay rầm rập tiếng xuồng máy hiện đại của những thanh niên. Thế nhưng, ẩn sau âm thanh ngày mới ấy, hình ảnh những con thuyền độc mộc kiên cường trong bão đạn vẫn hiện rõ qua lời kể của già làng Pêng.
Là người trực tiếp chèo thuyền độc mộc đưa cán bộ, chiến sĩ và vũ khí qua sông năm xưa, đôi tay già Pêng nay đã hằn vết thời gian nhưng ánh mắt vẫn rực sáng khi tái hiện lại những năm tháng thanh xuân. Già kể: Ngày ấy, khi màn đêm buông xuống, làng xóm chìm vào im lìm để đánh lạc hướng tai mắt địch, cũng là lúc đội du kích của già bắt đầu cuộc chiến thầm lặng.
Giữa bóng tối dày đặc của đại ngàn, dòng Pô Kô cuộn chảy, người đưa đò chân trần bám chặt vào mạn thuyền, đôi tay gân guốc ghì chặt mái chèo. Họ đẩy thuyền lao đi trong đêm, chở theo từng đoàn bộ đội và vũ khí nặng trĩu.
Tinh thần của những người chèo đò ngày ấy can trường đến lạ kỳ. Già Pêng hồi nhớ: Ranh giới giữa cái sống và cái chết lúc đó mong manh như sợi tóc. Trên đầu là máy bay địch gầm rú thả pháo sáng rực trời, dưới sông là dòng nước hung dữ sẵn sàng nuốt chửng mọi vật, nhưng không một ai biết sợ. Trong tim những người du kích Jrai lúc bấy giờ chỉ có một ý chí sắt đá: Bộ đội chưa qua sông, người lái đò không rời mái chèo.
Dù bom rơi ngay cạnh mạn thuyền, dù đôi tay rách da chảy máu vì ghì mái chèo, họ vẫn kiên cường chịu đựng, giữ cho con thuyền độc mộc thăng bằng để đưa bộ đội sang sông an toàn. Sự hy sinh thầm lặng, không cần ghi danh ấy chính là bệ đỡ cho những chiến công hiển hách của quân và dân ta trên chiến trường Plei Me và Chư Nghé.
Già Pêng trầm ngâm chia sẻ về nỗi niềm hiện tại, khi nghề đóng thuyền độc mộc của người Jrai đang mai một dần theo thời gian. Già thường xuyên nhắc nhở con cháu trong làng không được quên gốc gác, phải có trách nhiệm bảo tồn nghề truyền thống, bảo vệ những giá trị văn hóa và lịch sử hào hùng mà cha ông đã phải đánh đổi bằng cả máu xương để có được.
Nhìn ra dòng sông lộng gió, chú Chương bất ngờ lặng đi. Chú không nói lời nào, đôi mắt đỏ hoe rồi ầng ậc nước. Giọt nước mắt của người lính già lăn dài khi nhớ về những đồng đội đã ngã xuống, mãi mãi nằm lại ở lòng sông hay những cánh rừng biên giới mà không kịp nhìn thấy ngày hòa bình. Dòng cảm xúc của ông được kìm nén bằng tất cả sự kiêu hãnh và đau thương, nhưng có sức lay động mãnh liệt khiến cả đoàn công tác đều lặng đi vì xúc động.
Nhìn giọt nước mắt lăn dài trên gò má của chú Chương, nhìn nụ cười hiền hậu nhưng đầy trăn trở của già Pêng, lồng ngực chúng tôi thắt lại một niềm xúc động nghẹn ngào. Thế hệ trẻ chúng tôi sinh ra khi chiến tranh đã lùi xa. Tuy nhiên, đứng giữa làng cách mạng A Sanh, chúng tôi mới thấu hiểu hết sức nặng của hai từ "hòa bình".
Cây sầu riêng, cây chôm chôm bật lên từ đất nghèo. Dòng Pô Kô reo vang tiếng xuồng máy hôm nay chính là nhờ xương máu, thanh xuân của các cô, các chú gửi lại. Chúng tôi tự hứa với lòng mình sẽ sống xứng đáng với sự hy sinh ấy, mang theo ngọn lửa trách nhiệm để gìn giữ và dựng xây quê hương, như cách mà thế hệ cha anh đã giữ lấy từng tấc đất, bến sông này.