Có những di sản không nằm trong danh mục xếp hạng, cũng không hiện diện nổi bật trên bản đồ du lịch. Giếng cổ ở Nước Mặn là một ví dụ.
Mạch nước chưa bao giờ cạn
“Muốn xem giếng cổ thì phải tới từng nhà” - lời anh Lê Quang Hùng (người dân địa phương) đã mở đầu hành trình dẫn chúng tôi tìm dấu tích cảng thị Nước Mặn xưa.
Con đường nhỏ dẫn vào khu dân cư quanh chùa Bà rất yên bình. Không biển chỉ dẫn, không tuyến tham quan, những cái giếng cổ nằm nép dưới tán cây, sau vườn hoặc góc sân của các hộ dân.
Điểm dừng chân đầu tiên là nhà bà Nguyễn Thị Đương (70 tuổi). Cái giếng phía sau vườn được xây bằng đá ong và gạch cù, thân giếng vuông, phía trên được gia đình xây thêm thành tròn cao hơn 1 m để bảo đảm an toàn. Từ nhỏ, bà Đương đã thấy cái giếng hiện diện ở đó. Đến nay, giếng vẫn dồi dào nước, được dùng thường xuyên trong sinh hoạt.
Đối diện là nhà bà Ngụy Thị Ba (85 tuổi). Bà không nhớ cái giếng gạch cù được đào từ bao giờ, chỉ biết từ đời ông bà đến nay nước vẫn trong, chưa từng cạn. Điều khiến nhiều người chú ý hơn là đoạn tường rào dài gần 7 m xây bằng vật liệu cổ vẫn đứng vững sau nhiều thế hệ.
“Hồi trước, quanh đây nhiều nhà đều có những đoạn tường như vậy. Dưới nền cũng có lớp tường cứng như bê tông bây giờ, rất khó đập phá. Tôi chỉ nghe ông bà kể nó giống như đập ngăn mặn từ thời cảng Nước Mặn còn sầm uất...” - bà Ba chậm rãi kể.
Ở nhà ông Ngụy Cần (77 tuổi), cái giếng tròn xây bằng gạch cù vẫn còn nguyên vẹn. Ấn tượng nhất là bên cạnh giếng có xây hồ chứa nước hình chữ nhật khảm sành sứ, có bình phong và câu đối chữ Hán nội dung: “Khảm cung trung mãn/Binh đạo đại thành” (tạm dịch: Nội lực vững bền như tượng khảm/Binh pháp hoàn thiện đến đại thành).
“Giếng có từ trước thời ông cố. Hồ chứa nước thì cha tôi kể xây năm 1935. Có nhiều người tới hỏi mua cái hồ nước này nhưng tôi không bán, vì đó là kỷ vật của cha ông để lại” - ông Cần nói.
Nhiều gia đình quanh khu vực như bà Mai Thị Hẹn, anh Trần Trọng Tuấn... vẫn giữ lại những cái giếng có kết cấu tương tự. Dù cách nhau một quãng, các giếng đều sâu khoảng 4-5 m, nước giếng quanh năm mát lành. Ngay cả những năm hạn hán, khi nhiều ao hồ cạn đáy, mực nước trong giếng vẫn khá ổn định.
Để bảo đảm an toàn, các hộ đều xây thêm phần thành giếng phía trên cao khoảng 1-1,2 m. Lớp xây mới khiến hình dáng bên ngoài có phần khác trước, nhưng nhìn xuống lòng giếng vẫn dễ dàng nhận ra những lớp đá ong, gạch cù xếp ngay ngắn, gắn khít với nhau, gần như không thấy dấu vết của chất kết dính.
Đó là minh chứng cho kỹ thuật chọn mạch nước, xử lý nền đất và kinh nghiệm xây dựng giếng của cư dân vùng ven đầm Thị Nại từ nhiều thế kỷ trước.
“Chứng nhân” lưu giữ ký ức cảng thị xưa
Nếu chỉ nhìn từng cái giếng riêng lẻ, khó cảm nhận hết giá trị của chúng. Nhưng đặt trong không gian cảng thị Nước Mặn - trung tâm giao thương nổi tiếng từ thế kỷ XVII - XVIII, nơi thuyền buôn trong và ngoài nước từng cập bến, nơi các giáo sĩ phương Tây góp phần hình thành chữ Quốc ngữ đặt cư sở - thì những cái giếng ấy mang thêm nhiều tầng ý nghĩa.
Một đô thị muốn phát triển phải có nguồn nước ngọt ổn định. Thuyền buôn neo đậu nhiều ngày cần nước sinh hoạt, bổ sung nước dự trữ trên tàu. Người dân lập làng, mở chợ, dựng nhà cũng phải dựa vào những mạch nước trong lòng đất. Bởi vậy, sự hiện diện của hệ thống giếng quanh chùa Bà gợi mở về không gian cư trú của cảng thị xưa.
Dẫu chưa đủ cơ sở xác định niên đại từng cái giếng, việc nhiều giếng còn tồn tại tập trung trong khu vực từng là trung tâm Nước Mặn cho thấy đây là một phần quan trọng trong cấu trúc văn hóa của vùng đất.
Anh Trần Trọng Tuấn cho biết: Dù hiện nay đã sử dụng nước máy, gia đình vẫn giữ nguyên cái giếng cũ. Nước giếng vẫn được dùng tưới cây, giặt giũ, thậm chí pha trà vì vị ngọt mát. Giữ cái giếng cũng là giữ lại ký ức của nhiều thế hệ.
Giữa những ngôi nhà mới, những cái giếng cổ vẫn lặng lẽ tồn tại. Theo ông Nguyễn Văn Chín - Trưởng Ban Quản lý di tích chùa Bà, quanh khu vực hiện còn khoảng 15 giếng cổ trong nhà dân.
Riêng trong khuôn viên chùa Bà lưu giữ một giếng vuông xây bằng gạch cù. Năm 2025, cái giếng này được chỉnh trang, xây lại thành giếng, ốp đá, làm nền và nhà vọng cảnh để phục vụ khách tham quan. Việc tôn tạo không chỉ góp phần bảo vệ công trình mà còn bổ sung thêm một lát cắt về đời sống cư dân bên cạnh giá trị tín ngưỡng của di tích.
Cần nhận diện một di sản bị bỏ quên
Nhiều năm qua, các nghiên cứu về Nước Mặn chủ yếu tập trung vào thương cảng, lịch sử truyền giáo, chữ Quốc ngữ hay hệ thống di tích. Trong khi đó, những công trình dân sinh như giếng nước vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ, dù chính chúng góp phần phản ánh không gian cư trú của cư dân xưa.
Theo ông Bùi Tĩnh - Giám đốc Bảo tàng tỉnh, năm 2009, Bảo tàng tỉnh Bình Định (cũ) từng khảo sát sơ bộ và ghi nhận 16 giếng Champa trên địa bàn tỉnh. Các giếng được xây bằng đá ong, dạng vuông, dưới đáy lót gỗ và sỏi để lọc nước.
“Riêng cái giếng trong khuôn viên chùa Bà được xác định có niên đại khoảng cuối thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII, cùng với niên đại của di tích này. Đối với hệ thống giếng cổ trong nhà dân quanh chùa, bước đầu nhận định chúng có thể cùng niên đại với giếng ở chùa Bà, song đây mới chỉ là giả thuyết và cần được kiểm chứng bằng những nghiên cứu khoa học cụ thể hơn” - ông Tĩnh cho biết.
Nếu được khảo sát, đo vẽ, lập hồ sơ và nghiên cứu bài bản, những giếng cổ còn lại quanh chùa Bà sẽ bổ sung thêm tư liệu quý về lịch sử hình thành khu dân cư Nước Mặn. Xa hơn, đây có thể trở thành một điểm nhấn trong hành trình khám phá di sản vùng ven đầm Thị Nại.
***
Chiều muộn, chúng tôi rời thôn Nước Mặn khi tiếng gàu khẽ chạm vào thành giếng vang lên trong khoảng sân yên tĩnh. Mặt nước dưới lòng giếng vẫn trong veo, phản chiếu bóng cây và bầu trời đầu hạ.
Những giếng cổ không chỉ lưu giữ mạch nước ngọt của cư dân ven đầm mà còn lặng lẽ kể câu chuyện về một thương cảng Nước Mặn từng xuất hiện trên hải đồ quốc tế, nơi dấu tích lịch sử vẫn hiện hữu trong từng góc sân, sau mỗi hiên nhà.