Khó khăn trong việc tuyển dụng lao động vào dự án trồng cao su

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

(GLO)- Chư Prông là huyện có diện tích đất lâm nghiệp chuyển sang trồng cao su lớn nhất tỉnh Gia Lai với diện tích đất được UBND tỉnh giao cho các doanh nghiệp triển khai các dự án trồng cao su trên địa bàn huyện trên 22.937 ha. Diện tích đất trồng mới cao su trên đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện từ năm 2008 đến nay được gần 12.609 ha.

Theo đánh giá của ngành chức năng, công tác tuyển dụng lao động, nhất là người dân tộc thiểu số tại nơi có dự án trồng cao su và làm việc trong các dự án trên địa bàn huyện Chư Prông đã chuyển biến tích cực, các doanh nghiệp đều ưu tiên nhận lao động là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ vào làm hợp đồng dài hạn, tạo điều kiện giải quyết việc làm cho lao động là người dân tộc thiểu số và hộ nghèo góp phần tăng thêm thu nhập cho người lao động, đảm bảo đời sống an sinh xã hội cho nhân dân trên địa bàn (chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước).

Ảnh: Đức Thụy
Ảnh: Đức Thụy

Đối với các lao động có hợp đồng lao động dài hạn, các doanh nghiệp đã thực hiện các chế độ cho người lao động về bảo hiểm xã hội, trang cấp bảo hộ lao động. Số lao động dài hạn đã được các doanh nghiệp tuyển dụng vào làm việc trong các dự án trồng cao su là 1.382 người. Trong đó, số lao động người dân tộc thiểu số là 1.135 người, số lao động là người dân tộc thiểu số tại địa phương là 845 người. Số lao động các doanh nghiệp thuê mướn thời vụ là 1.392 người. Dự kiến trong năm 2012, các doanh nghiệp tuyển dụng 1.249 lao động dài hạn, trong đó: lao động là người dân tộc thiểu số ở địa phương (huyện có dự án) là 1.100 người. Số lao động thời vụ dự kiến thuê mướn năm 2012 là 1.260 người.

Tuy nhiên, công tác tuyển dụng lao động vào làm việc dài hạn trong các dự án trồng cao su trên đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện vẫn còn một số hạn chế. Số lượng người lao động đã được tuyển dụng vào làm việc dài hạn thấp so với số lượng lao động cần tuyển dụng theo diện tích cao su đã được trồng mới thời kỳ xây dựng cơ bản của các đơn vị. Riêng tỷ lệ đồng bào dân tộc tại chỗ được tuyển dụng vào các doanh nghiệp chỉ đạt 45% so với số lao động cần tuyển dụng trong các dự án. Số lao động dài hạn người dân tộc thiểu số ở các tỉnh khác chuyển đến Gia Lai tương đối cao so với số lao động đã tuyển dụng (233/1.382).

Một số doanh nghiệp như: Công ty cổ phần trồng rừng công nghiệp Gia Lai, Công ty TNHH 30-4, Công ty cổ phần đầu tư và PTNN Sài Gòn chưa thực hiện tuyển dụng lao động người địa phương vào làm việc dài hạn trong các dự án. Việc thuê mướn lao động thời vụ vào làm việc trong các dự án trồng cao su, nhiều doanh nghiệp không sử dụng lao động là người dân của địa phương mà lại tuyển dụng lao động ở những tỉnh khác vào làm việc như Bình Định, Quảng Ngãi, Bến Tre...

Tuyển dụng lao động người dân tộc thiểu số tại chỗ (làng, xã có các dự án) của các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn, các doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng lao động nhưng không thể tuyển dụng lao động tại địa phương, dẫn đến các doanh nghiệp thiếu lao động trầm trọng khi vào mùa vụ, dẫn đến nhiều đơn vị tuyển dụng lao động bên ngoài vào. Việc giữ chân người lao động là đồng bào dân tộc thiểu số của các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, các doanh nghiệp tuyển dụng lao động vào làm việc dài hạn nhưng một thời gian sau những lao động này lại nghỉ việc (như Công ty Quang Đức hiện nay tất cả số lao động dài hạn tuyển dụng các năm trước đã thôi việc).

Có thể thấy những nguyên nhân dẫn đến việc tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp tham gia dự án trồng cao su trên địa bàn huyện Chư Prông gặp khó khăn. Đó là, đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ từ nhiều đời nay đã quen với việc canh tác tự do, nay vào làm công nhân cao su với những yêu cầu chặt chẽ về kỹ thuật, thời gian, mùa vụ nên chưa nhiệt tình tham gia. Bên cạnh đó, điều kiện sinh hoạt cho người lao động (nhất là lao động dân tộc thiểu số) còn hạn chế, các dự án đều nằm ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, đường sá đi lại khó khăn, khoảng cách từ thôn làng của lao động đến các dự án là khá xa, người lao động vào làm việc không có chỗ ăn ở ổn định, không có trạm y tế chăm sóc sức khỏe, trong khi tiền lương đơn vị trả cho người lao động thấp, không đảm bảo điều kiện sống nên người lao động nghỉ việc.

Bên cạnh đó người lao động ở các khu vực này đều có nương rẫy nên không mấy thiết tha trong việc làm việc lâu dài trong các dự án trồng cao su. Trên địa bàn có nhiều đơn vị có dự án trồng cao su nên lực lượng lao động tại chỗ không đáp ứng đủ cho các doanh nghiệp tuyển dụng.

Việc xây dựng cơ sở hạ tầng, nhất là vấn đề đảm bảo nước sinh hoạt, nhà ở, điện thắp sáng, giao thông, trường học, trạm y tế cho người lao động của các doanh nghiệp theo cam kết trong các dự án đầu tư vẫn chưa được thực hiện đúng theo cam kết. Nhiều doanh nghiệp vì lý do lợi nhuận nên không muốn tuyển dụng lao động dài hạn vào làm việc, nhất là người dân tộc thiểu số tại chỗ vì năng suất lao động thấp, ý thức chấp hành kỷ luật hạn chế và để trốn tránh việc đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và trang bị bảo hộ lao động cho người lao động.

Công tác tuyên truyền, quán triệt chủ trương chuyển rừng nghèo sang trồng cao su của chính quyền địa phương, chủ rừng và doanh nghiệp chưa thật sự sâu rộng đến tận người dân. Công tác phối hợp với địa phương (UBND huyện, UBND xã) của các doanh nghiệp trong việc tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân, nhất là người dân tộc thiểu số vào làm việc trong các dự án trồng cao su còn hạn chế nên không thu hút được người lao động tại chỗ vào làm việc.

Trên địa bàn có nhiều đơn vị có dự án trồng cao su nên lực lượng lao động tại chỗ không đáp ứng đủ cho các doanh nghiệp tuyển dụng. Chẳng hạn như ở những thời điểm vào vụ cần huy động một lực lượng lao động lớn để hoàn thành khối lượng công việc cho kịp tiến độ thời vụ thì số lao động không đáp ứng được, do đó doanh nghiệp phải sử dụng lao động ngoài tỉnh.

Để giải quyết được những vấn đề này cần được tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện đồng bộ của các cấp, các ngành. Đặc biệt quan tâm hơn nữa đến công tác tuyên truyền, vận động nhân dân trên địa bàn tích cực tham gia dự án.

Mai Kim Tiến
 

Có thể bạn quan tâm

Đình chỉ lưu hành 8 loại mỹ phẩm chứa hoạt chất không được phép sử dụng

Đình chỉ lưu hành 8 loại mỹ phẩm chứa hoạt chất không được phép sử dụng

(GLO)- Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế) vừa quyết định đình chỉ lưu hành, thu hồi trên toàn quốc tất cả các lô còn hạn sử dụng đối với 8 sản phẩm mỹ phẩm, bao gồm các loại dầu gội, bọt vệ sinh và dung dịch vệ sinh phụ nữ vì chứa hoạt chất kháng nấm đã bị loại khỏi danh mục được phép sử dụng trong mỹ phẩm.

Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai tri ân 160 căn hộ cho người lao động có nhiều cống hiến

Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai tri ân 160 căn hộ cho người lao động có nhiều cống hiến

(GLO)- Ngày 18-1, Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai (HAGL) tổ chức Lễ tri ân người lao động. Đáng chú ý, ông Đoàn Nguyên Đức - Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn đã quyết định trao tặng 160 căn hộ (trị giá 2-8 tỷ đồng/căn) cho các cán bộ, người lao động có nhiều đóng góp cho doanh nghiệp.

Dự án mở rộng Khu công nghiệp Nhơn Hòa giai đoạn 2: Nhanh chóng giải phóng mặt bằng

Dự án mở rộng Khu công nghiệp Nhơn Hòa giai đoạn 2: Nhanh chóng giải phóng mặt bằng

(GLO)- Nhờ sự cộng hưởng giữa năng lực của chủ đầu tư, tinh thần trách nhiệm của chính quyền phường An Nhơn Nam (tỉnh Gia Lai) và sự đồng thuận của người dân, công tác giải phóng mặt bằng Dự án mở rộng Khu công nghiệp Nhơn Hòa giai đoạn 2 được triển khai nhanh chóng, hiệu quả.

Người nông dân tại khu vực Tây Gia Lai đang chăm sóc vườn hoa lay ơn trong điều kiện thời tiết lạnh kéo dài trước Tết Nguyên đán 2026.

Người trồng hoa lay ơn Tây Gia Lai thấp thỏm vì thời tiết lạnh

(GLO)- Còn khoảng hơn một tháng nữa là đến Tết Nguyên đán, thời điểm này người trồng hoa lay ơn đang tập trung chăm sóc để hoa nở đúng dịp Tết. Song gần đây, thời tiết khu vực Tây Gia Lai xuất hiện lạnh kéo dài khiến người trồng hoa lay ơn không khỏi lo lắng về nguy cơ hoa nở “lệch vụ Tết”.

Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Anh Tuấn chủ trì hội nghị giao chỉ tiêu phát triển các khu, cụm công nghiệp tại tỉnh Gia Lai năm 2026 vào chiều ngày 15-1.

Gia Lai đồng hành cùng nhà đầu tư, thúc đẩy phát triển khu, cụm công nghiệp

(GLO)- Chiều 15-1, UBND tỉnh Gia Lai tổ chức hội nghị đánh giá tình hình hoạt động và giao chỉ tiêu đầu tư, phát triển các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh năm 2026. Các đồng chí: Phạm Anh Tuấn - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; Nguyễn Hữu Quế - Phó Chủ tịch UBND tỉnh, chủ trì hội nghị.

Những chậu lan hồ điệp rực rỡ màu sắc được trưng bày tại cửa hàng hoa phục vụ thị trường Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026.

Lan hồ điệp rực rỡ đón Tết

(GLO)- Bên cạnh các loài hoa truyền thống, lan hồ điệp cũng được nhiều người lựa chọn để trang trí không gian sống trong dịp Tết. Những ngày này, từ các cửa hàng đến vườn hoa, lan hồ điệp đã tưng bừng khoe sắc sẵn sàng đón xuân.

Việt Nam là một điển hình trong chuyển đổi thành công mô hình kinh tế

Việt Nam là một điển hình trong chuyển đổi thành công mô hình kinh tế

Sự kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đang trở thành tâm điểm chú ý của dư luận quốc tế. Những nhận định từ các nhà nghiên cứu thế giới đã phác họa một bức tranh toàn diện về thành tựu của Việt Nam sau bốn thập niên Đổi mới và kỳ vọng vào một giai đoạn vươn mình đầy bứt phá.

Kích cầu tiêu dùng mùa cao điểm Tết

Gia Lai kích cầu tiêu dùng mùa cao điểm Tết

(GLO)- Nhu cầu mua sắm trong dịp Tết Nguyên đán bắt đầu tăng ở nhiều ngành hàng. Không chỉ lượng khách tăng, cơ cấu chi tiêu cũng cho thấy sự dịch chuyển theo hướng chủ động hơn, tính toán hơn, phản ánh cả nỗ lực kích cầu của doanh nghiệp lẫn những thay đổi trong tâm lý tiêu dùng của người dân.

Gia Lai: Đảm bảo 100% sản phẩm, hàng hóa có mức rủi ro cao phải thực hiện TXNG theo lộ trình

Gia Lai: Đảm bảo 100% sản phẩm, hàng hóa có mức rủi ro cao phải thực hiện TXNG theo lộ trình

(GLO)- UBND tỉnh Gia Lai vừa ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án triển khai, áp dụng và quản lý hệ thống truy xuất nguồn gốc (Đề án 100) giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh. Trong đó, đề ra mục tiêu đảm bảo 100% sản phẩm, hàng hóa có mức rủi ro cao phải thực hiện TXNG theo lộ trình.

null