Đề xuất giá điện mới: Dùng hơn 400kWh/tháng phải trả thêm tiền

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Bộ Công Thương đề xuất cơ cấu biểu giá bán lẻ điện sinh hoạt giảm từ 6 bậc xuống còn 5 bậc. Trong đó, giá điện bán lẻ bậc 4 (từ 401-700kWh) và bậc 5 (trên 700kWh) sẽ tăng từ 105-483,6 đồng/kWh so với mức tối đa hiện nay.

Hộ dùng từ 401 kWh sẽ trả thêm tiền điện

Nội dung này có trong hồ sơ dự thảo quyết định về cơ cấu biểu giá bán lẻ điện (thay thế Quyết định 28), Bộ Công Thương gửi Bộ Tư pháp thẩm định.

Theo đó, 5 bậc giá điện bán lẻ mới được Bộ Công Thương đề xuất gồm: Bậc 1 từ 0 - 100kWh; bậc 2 từ 101-200kWh; bậc 3 từ 201- 300kWh; bậc 4 từ 401-700kWh và bậc 5 là trên 700kWh.

Bộ Công Thương đề xuất giữ nguyên giá điện hiện hành cho bậc 1, bậc 2 và bậc 3. Việc này nhằm đảm bảo ổn định giá điện cho các hộ nghèo, hộ chính sách xã hội có mức sử dụng điện thấp thuộc bậc 1 (chiếm 33,4% số hộ). Phần chênh lệch giảm doanh thu tiền điện ở bậc này được bù đắp từ hộ sử dụng điện từ bậc 4 và bậc 5.

Bộ Công Thương đề xuất giảm 6 bậc giá bán lẻ điện xuống còn 5 bậc. Ảnh: D.H.
Bộ Công Thương đề xuất giảm 6 bậc giá bán lẻ điện xuống còn 5 bậc. Ảnh: D.H.

Giá điện cho bậc 4 và bậc 5 sẽ được thiết kế tăng nhằm bù trừ doanh thu cho các bậc thấp và khuyến khích tiết kiệm trong sử dụng điện. Theo đó, bậc 4 sẽ có giá điện mới là 3.407 đồng/kWh, bậc 5 sẽ là hơn 3.785 đồng, cao hơn mức tối đa ngưỡng 3.302 đồng/kwh (từ 401 kWh trở lên) của biểu giá hiện hành.

Với đề xuất mới, Bộ Công Thương tính toán, giá bán điện của nhóm khách hàng sản xuất làm tăng cơ cấu giá bán lẻ điện ngành sản xuất từ 1 - 2% so với giá bán lẻ điện bình quân và các doanh nghiệp sản xuất sẽ chịu tác động tăng giá điện từ 2,4-3,3%. Phương án mới đảm bảo lộ trình từng bước tính đúng, tính đủ chi phí cho nhóm khách hàng sản xuất.

3 phương án cho giá điện trạm sạc

Một điểm mới của dự thảo lần này là Bộ Công Thương đề xuất bổ sung khách hàng sạc xe điện vào nhóm khách hàng kinh doanh. Trên cơ sở ý kiến của các đơn vị liên quan, Bộ Công Thương đưa ra 3 phương án.

Phương án 1 là áp dụng giá điện cho mục đích sạc xe điện theo giá kinh doanh (theo ý kiến của EVN). Theo Bộ Công Thương, phương án này có thể tác động (không tích cực) tới chính sách phát triển xe điện do làm tăng chi phí sạc điện, đồng thời chưa phản ánh đúng chi phí của khách hàng sử dụng trạm, trụ sạc xe điện gây ra cho hệ thống điện, tiếp tục tạo ra bù chéo giá điện giữa các nhóm khách hàng.

Phương án 2 là cơ cấu biểu giá bán lẻ điện cho trạm, trụ sạc xe điện được xây dựng trên cơ sở giá điện phản ánh chi phí sản xuất điện mà trạm/trụ điện gây ra cho hệ thống điện. Phương án này được Bộ Công Thương đánh giá đảm bảo phân bổ chi phí tới khách hàng sử dụng điện, không có bù chéo giá điện giữa nhóm khách hàng trạm, trụ sạc xe điện và nhóm khách hàng còn lại.

Bộ Công Thương đề xuất khách hàng sạc xe điện vào nhóm khách hàng kinh doanh.
Bộ Công Thương đề xuất khách hàng sạc xe điện vào nhóm khách hàng kinh doanh.

Phương án 3 là áp dụng theo biểu giá điện cho sản xuất. Theo Bộ Công Thương, nếu áp dụng giá điện cho trạm sạc theo giá sản xuất sẽ làm cho khách hàng sử dụng trạm, trụ sạc xe điện phải trả ít hơn chi phí thực tế gây ra cho hệ thống điện bình quân khoảng từ 552-699 đồng/kWh tùy cấp điện áp.

Nếu áp dụng giá điện cho trạm sạc theo giá kinh doanh sẽ làm cho khách hàng sử dụng trạm, trụ sạc xe điện phải trả nhiều hơn chi phí thực tế gây ra cho hệ thống điện bình quân khoảng từ 467-587 đồng/kWh tùy cấp điện áp.

Bộ Công Thương đánh giá phương án 1 và 3 sẽ tiếp tục làm phát sinh bù chéo giữa các nhóm khách hàng sử dụng điện, khi triển khai áp dụng có thể sẽ không phù hợp với chủ trương của Bộ Chính trị là 'không thực hiện bù chéo giá điện giữa các nhóm khách hàng' và lộ trình giảm bù chéo giá điện quy định tại Luật Điện lực 2024". Do đó, Bộ Công Thương xuất chọn phương án 2.

Theo Dương Hưng (TPO)

Có thể bạn quan tâm

Công tác quản lý, đầu tư và phát triển khu công nghiệp: Nơi bứt phá, chỗ còn lực cản

Công tác quản lý, đầu tư và phát triển khu công nghiệp: Nơi bứt phá, chỗ còn lực cản

(GLO)- Năm 2025 là năm thứ 2 UBND tỉnh Gia Lai giao chỉ tiêu về quản lý, đầu tư và phát triển khu công nghiệp cho các chủ đầu tư hạ tầng. Kết quả triển khai cho thấy nhiều tín hiệu tích cực, song vẫn còn không ít chỉ tiêu chưa đạt như kỳ vọng, phản ánh rõ sự phân hóa giữa các khu công nghiệp.

Khấm khá nhờ nghề trồng dâu nuôi tằm

Khấm khá nhờ nghề trồng dâu nuôi tằm

(GLO)- Trồng dâu nuôi tằm đang trở thành sinh kế vững chắc cho hàng nghìn hộ nông dân ở các xã phía Tây tỉnh Gia Lai. Thông qua mô hình liên kết sản xuất - tiêu thụ sản phẩm, người dân giảm được rủi ro trong sản xuất và từng bước cải thiện đời sống.

Giá vàng ngày ngày 30-12 lao dốc.

Giá vàng lao dốc

(GLO)- Ngày 30-12, thị trường vàng trong nước lao dốc, mất 3,8 triệu đồng, trở về mốc 154,2 triệu đồng/lượng. Đây là mức giảm mạnh nhất ghi nhận trong tháng 12.

Mở rộng không gian kết nối, thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm

Gia Lai: Mở rộng không gian kết nối, thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm

(GLO)- Năm 2025, hoạt động xúc tiến thương mại của Gia Lai có bước chuyển mình mạnh mẽ, từ các chương trình hội chợ truyền thống đến phát triển trên không gian số năng động, linh hoạt. Cách làm này giúp sản phẩm địa phương vượt khỏi ranh giới địa lý để tiếp cận thị trường rộng lớn hơn.

Công ty TNHH MTV Cao su Chư Păh công bố sản phẩm đáp ứng quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu

Công ty TNHH MTV Cao su Chư Păh công bố sản phẩm đáp ứng quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu

(GLO)- Chiều 26-12, Công ty TNHH MTV Cao su Chư Păh tổ chức lễ công bố sản phẩm đáp ứng quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu (EUDR). Đây là sự kiện thể hiện sự chủ động, quyết tâm của doanh nghiệp trong việc thực hiện cam kết gắn sản xuất với bảo vệ môi trường bền vững.

Gia Lai: Phấn đấu tốc độ tăng trưởng nông - lâm nghiệp và thủy sản năm 2026 đạt 3,7-3,8%

Gia Lai: Phấn đấu tốc độ tăng trưởng nông - lâm nghiệp và thủy sản năm 2026 đạt 3,7-3,8%

(GLO)- Năm 2026, ngành Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Gia Lai phấn đấu tốc độ tăng trưởng nông - lâm nghiệp và thủy sản đạt 3,7-3,8%; giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều còn 1,43%; 99% dân cư nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh; tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt đô thị đạt 92,4%...

null