Bảo hiểm nông nghiệp: Khó nhưng phải làm

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
(GLO)- Tháng 4-2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 58/2018/NĐ-CP về bảo hiểm nông nghiệp. Đến ngày 26-6-2019, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 22/2019/QĐ-TTg về thực hiện chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp, thời gian thực hiện từ ngày 26-6-2019 đến hết ngày 31-12-2020. Điều này cho thấy, Chính phủ đang rất quan tâm đến lĩnh vực bảo hiểm nông nghiệp. 
Trong thực tế, bảo hiểm nông nghiệp là việc hết sức cần thiết cho nền nông nghiệp, cho nông dân Việt Nam, cho sự phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hóa. Nhưng để “phủ sóng” được loại hình bảo hiểm này trên toàn quốc là chuyện không hề đơn giản.
Ảnh: Internet.
Ảnh: Internet.
Ông Hoàng Quang Phòng-Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam-cho biết: Việt Nam là một nước nông nghiệp, nhưng hàng năm thiên tai, dịch bệnh đã cướp đi của người nông dân khối tài sản ước tính 1,5% GDP. Vì vậy, người nông dân cần một sự bảo đảm cho thành quả và công sức lao động của mình và bảo hiểm nông nghiệp chính là niềm hy vọng mạnh mẽ nhất.
Nhưng để biến “niềm hy vọng mạnh mẽ” thành hiện thực, để bên tham gia bảo hiểm là nông dân được hưởng lợi, để sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng hàng hóa, đồng thời những doanh nghiệp bảo hiểm cũng kinh doanh hiệu quả thì quy trình thực hiện bảo hiểm nông nghiệp phải công khai, minh bạch. Ngoài ra, phải hạn chế tối đa những hệ lụy từ hình thức bảo hiểm này, trong đó, việc xác định rủi ro trong nông nghiệp là vấn đề rất khó nên đã có sự trục lợi bảo hiểm. Để tránh tình trạng trục lợi bảo hiểm nông nghiệp thì trong hợp đồng công ty bảo hiểm và người bảo hiểm phải có định mức kinh tế kỹ thuật của người mua sản phẩm. Nghĩa là hợp đồng bảo hiểm nông nghiệp phải mang tính luật pháp rõ ràng, có đủ những điều khoản nhằm xử lý các trường hợp rủi ro và hệ lụy, kể cả chuyện trục lợi bảo hiểm.
Khó, nhưng không thể không làm. Những nước phát triển trên thế giới đều có chính sách bảo hiểm nông nghiệp, nhất là những nước có nền nông nghiệp phát triển. Người nông dân ở các nước ấy rất yên tâm khi mua đủ bảo hiểm vì họ sẽ được hưởng những đền bù thỏa đáng nếu gặp rủi ro, nhất là những rủi ro do thiên tai gây ra.
Với một đất nước nông nghiệp có quá nhiều thiên tai hàng năm, mật độ thiên tai ngày càng dày và cường độ ngày càng tăng như ở Việt Nam thì quả thật, những doanh nghiệp bảo hiểm sẽ hết sức băn khoăn khi tham gia vào lĩnh vực này vì rủi ro cho họ là không hề nhỏ. Nhưng những lợi ích cho cả doanh nghiệp bảo hiểm và nông dân tham gia bảo hiểm còn lớn lao hơn nếu chúng ta có chính sách bảo hiểm nông nghiệp chuyên nghiệp, minh bạch và ngày càng hứa hẹn mang lại lợi ích cho các bên tham gia.
Một khi nông dân đã am hiểu, tin cậy vào bảo hiểm nông nghiệp thì sự tham gia của họ sẽ ngày càng tăng. Quy mô bảo hiểm sẽ lớn nhưng nó có thật sự “mạnh” hay không lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong đó, nổi lên hàng đầu là khả năng quản lý, khả năng vận động người tham gia và khả năng thuyết phục về sự ổn định của bảo hiểm nông nghiệp khiến các bên đều có thể yên tâm. Đó mới là điều cực kỳ khó khăn nhưng bắt buộc phải làm.
Giúp giảm thiểu rủi ro cho người dân, đưa nông dân đến sản xuất hàng hóa trở thành giải pháp quan trọng để Nhà nước thúc đẩy đổi mới cơ cấu, phát triển nền nông nghiệp hàng hóa… Bấy nhiêu lợi ích của bảo hiểm nông nghiệp là hết sức rõ ràng, nhưng thực hiện được bảo hiểm nông nghiệp một cách bền vững là không dễ dàng. Nó đòi hỏi phải có luật, có lợi và có lòng. Phải có luật và có lợi thì ai cũng biết, nhưng phải có lòng, nghĩa là phải có tình yêu kèm trách nhiệm thực sự với nông dân thì mới làm tốt được chính sách bảo hiểm nông nghiệp mà không dẫn tới đổ vỡ.
Thực tế vận hành với rất nhiều sai sót, thậm chí tham nhũng của Quỹ Bảo hiểm xã hội trong những năm vừa qua là kinh nghiệm xương máu cho chúng ta khi triển khai chính sách bảo hiểm nông nghiệp vào thực tế và duy trì sự bền vững của nó. Sở dĩ nhiều ngân hàng còn “đứng ngoài cuộc” trong hoạt động bảo hiểm nông nghiệp cũng vì sau những năm tháng bị “nợ xấu” hoành hành, họ đã trở nên quá thận trọng. Họ chờ xem và nếu thấy lợi ích rõ ràng và ổn định thì chắc chắn sẽ tham gia theo đúng chức năng ngành của họ.
 THANH THẢO

Có thể bạn quan tâm

Tất bật bảo vệ vườn sầu riêng trước mùa mưa bão

Tất bật bảo vệ vườn sầu riêng trước mùa mưa bão

(GLO)- Thời điểm này, phần lớn diện tích sầu riêng trên địa bàn tỉnh Gia Lai bước vào thời kỳ nuôi quả. Trước những cơn mưa đầu mùa bắt đầu xuất hiện ngày càng dày, nhiều nhà vườn đang khẩn trương chống đỡ cành, neo buộc quả nhằm giảm nguy cơ gãy cành, rụng quả trước vụ thu hoạch.

Gia Lai: Hơn 7.580 tấn muối còn tồn trong dân

Gia Lai: Hơn 7.580 tấn muối còn tồn trong dân

(GLO)- Theo Chi cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản (Sở Nông nghiệp và Môi trường), đầu năm 2026 đến nay, diện tích sản xuất và số lao động làm muối giảm so với cùng kỳ năm 2025. Toàn tỉnh đã bán 7.556 tấn muối, lượng muối còn tồn trong dân là 7.580,4 tấn.

Nông dân Ia Grai liên kết để sản xuất cà phê bền vững

Nông dân Ia Grai liên kết để sản xuất cà phê bền vững

(GLO)- Xã Ia Grai (tỉnh Gia Lai) hiện có 4.242 ha cà phê. Thay vì sản xuất theo hướng nhỏ lẻ như trước đây, những năm qua, người dân từng bước tham gia các tổ liên kết, áp dụng quy trình canh tác bền vững theo tiêu chuẩn 4C và liên kết với doanh nghiệp trong sản xuất để nâng giá trị cà phê.

Gia Lai: Cấp 1.200 cây mắc ca trồng xen canh vườn cà phê thuộc Dự án SAFE

Gia Lai: Cấp 1.200 cây mắc ca trồng xen canh vườn cà phê

(GLO)- Trong khuôn khổ Dự án Nông nghiệp bền vững vì hệ sinh thái rừng (SAFE) Việt Nam, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Gia Lai vừa cấp hơn 1.200 cây mắc ca cho 6 hộ dân tại 2 xã Kon Gang và Kbang trồng xen trong vườn cà phê, tuân thủ quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR).

Chuẩn hóa vùng nguyên liệu để mở rộng xuất khẩu

Chuẩn hóa vùng nguyên liệu để mở rộng xuất khẩu

(GLO)- Với hàng trăm mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói được cấp, cùng sự phát triển của các chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ, Gia Lai đang đẩy mạnh xây dựng và phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn, tạo động lực nâng cao giá trị nông sản và phát triển xuất khẩu bền vững.

null