Địa phương tiên phong và những kỳ vọng
Quy định tạm thời về quản lý việc sử dụng điện thoại và mạng xã hội đối với học sinh dưới 16 tuổi do xã Hòa Vang ban hành được áp dụng từ năm học 2026-2027.
Theo Chủ tịch UBND xã Hòa Vang Lê Phú Nguyện, trước khi ban hành quy định này, chính quyền địa phương này đã khảo sát 2.707 phụ huynh ở xã Hòa Vang. 79,2% trong số đó cho rằng điện thoại và mạng xã hội ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc học tập, rèn luyện của học sinh; 95,5% đánh giá cần có giải pháp quản lý, hạn chế sử dụng đối với học sinh dưới 16 tuổi.
Theo quy định tạm thời này, nhà trường không cấm tuyệt đối việc sử dụng điện thoại, mạng xã hội mà quản lý về thời gian, nội dung và mục đích sử dụng, bảo đảm phục vụ học tập và sự phát triển toàn diện của học sinh.
Cụ thể, học sinh phải nộp lại điện thoại cho giáo viên chủ nhiệm trước giờ học và nhận lại sau khi tan trường. Các em được khuyến khích dành thời gian đọc sách, tham gia hoạt động thể chất và tránh bị lôi kéo vào các hội nhóm bạo lực trên mạng xã hội.
Ngay lập tức, thông tin trên đã nhận được sự hưởng ứng tán thành rất tích cực của đại đa số giáo viên, phụ huynh học sinh trên cả nước. Việc ban hành quy định như trên là cần thiết, tạo thêm cơ sở để nhà trường quản lý học sinh hiệu quả hơn.
Nhiều ý kiến cho rằng, tình trạng học sinh lén sử dụng điện thoại trong giờ học, nghiện game, nghiện mạng xã hội, thậm chí phát sinh mâu thuẫn từ các nhóm kín trên mạng là thực trạng phổ biến.
Dưới góc độ tâm lý học phát triển và tâm lý học xã hội, TS. Lê Phương Hoa - giảng viên Khoa Tâm lý học, Trường Đại học Thái Nguyên - cho rằng, trẻ vị thành niên ở giai đoạn khủng hoảng hoán vị bản sắc. Các em cần tương tác thực tế để định hình “cái tôi”. Việc dùng điện thoại thông minh bất kể thời gian sẽ để lại nhiều hậu quả.
Thứ nhất, đối với học tập: Điện thoại huấn luyện não bộ trẻ quen nhận Dopamine (hooc-mon hạnh phúc) từ các kích thích ngắn, nhanh (video vài chục giây, thông báo liên tục). Khi quay lại với bài học vốn là kích thích tĩnh và chậm, não trẻ sẽ phản kháng, rơi vào trạng thái chán nản, bứt rứt và mất hoàn toàn khả năng đọc sâu hay tư duy phản biện.
Cơ chế vừa học vừa lướt điện thoại buộc não phải liên tục chuyển đổi trạng thái tập trung. Điều này khiến thông tin thu nạp bị đứt gãy, manh mún, không thể chuyển hóa và lưu trữ vào trí nhớ dài hạn.
Dùng điện thoại sát giờ ngủ làm mất chu kỳ ngủ sâu, trẻ thức dậy với bộ não mệt mỏi, giảm 30-40% khả năng tiếp thu bài mới vào ngày hôm sau.
Thứ hai, trẻ bị suy giảm trí tuệ cảm xúc (EQ): Việc giao tiếp qua màn hình điện thoại khiến trẻ bị ngắt kết nối hoàn toàn với các tín hiệu phi ngôn ngữ (ánh mắt, tông giọng, cử chỉ, biểu cảm khuôn mặt). Việc dùng điện thoại vô điều kiện sẽ cướp đi thời gian vui chơi thực tế - nơi trẻ học cách thỏa hiệp, giải quyết xung đột và đồng cảm. Hậu quả là trẻ phát triển một nhân cách thiếu nhạy cảm xã hội, khó thấu cảm với người khác.
Thứ ba: Khi liên tục nhìn thấy những hình ảnh hoàn hảo được lọc lựa trên mạng, trẻ dễ rơi vào bẫy so sánh xã hội, dẫn đến lòng tự trọng thấp, bất an về ngoại hình và lo âu kéo dài.
Thứ tư, việc tiếp xúc không kiểm soát với các nội dung độc hại, bạo lực hoặc các hội nhóm kích động trên mạng xã hội dễ khiến trẻ dần bình thường hóa các hành vi bạo lực, coi đó là cách giải quyết xung đột chấp nhận được. Khi những ức chế trên mạng tích tụ (ví dụ: bị bóc phốt, bị cô lập trực tuyến), chúng sẽ dễ dàng chuyển hóa thành bạo lực thể xác tại trường học như một cách để giải tỏa và khẳng định quyền lực.
Còn theo PGS.TS. Ninh Thị Kim Thoa (Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh), việc sử dụng điện thoại liên tục làm giảm khả năng tập trung, phân tán tư tưởng trong giờ học. Học sinh dễ sa vào việc gian lận, lười suy nghĩ do phụ thuộc vào các công cụ giải bài tập trên mạng, dẫn đến hổng kiến thức căn bản và giảm sút kết quả học tập.
Cùng với đó là tác động tiêu cực đến sức khỏe và cuộc sống. Việc thức khuya cày game, lướt mạng xã hội gây thiếu ngủ, mệt mỏi, suy giảm thị lực và tăng nguy cơ béo phì do lười vận động. Về mặt tâm lý, việc nghiện thế giới ảo dễ dẫn đến hội chứng sợ bỏ lỡ (FOMO), trầm cảm, lo âu và giảm tương tác trực tiếp với gia đình, bạn bè.
Cũng cần phải kể đến nguy cơ lệch lạc về văn hóa và nhận thức. Học sinh dưới 16 tuổi chưa đủ nhận thức để bộ lọc thông tin. Các em dễ bị tiêm nhiễm bởi các văn hóa phẩm độc hại, bạo lực mạng, ngôn từ tục tĩu, hoặc bị lôi kéo vào các hội nhóm lệch chuẩn, dẫn đến các hành vi lệch lạc trong đời thực.
“Lợi kép” khi áp dụng quy định quản lý
PGS.TS. Ninh Thị Kim Thoa cho rằng áp dụng quy định về quản lý việc sử dụng điện thoại và mạng xã hội đối với học sinh dưới 16 tuổi sẽ tạo ra môi trường học tập thuần túy. Bởi khi không bị phân tâm bởi thông báo tin nhắn hay trò chơi điện tử, học sinh sẽ tập trung nghe giảng, tăng tính tương tác với giáo viên và tiếp thu bài tốt hơn.
Bên cạnh đó, giúp các em tái kết nối không gian giảng đường và gia đình. Giờ ra chơi trở lại đúng nghĩa là khoảng thời gian để các em trò chuyện, chơi thể thao, đọc sách và gắn kết bạn bè, thay vì mỗi người ôm một chiếc điện thoại như lâu nay.
Một vấn đề rất hữu ích khác là quy định trên sẽ góp phần bảo vệ trẻ em trên không gian mạng. Việc giảm thiểu thời gian tiếp xúc với mạng xã hội cũng đồng nghĩa với việc giảm nguy cơ các em bị bắt nạt trực tuyến, lừa đảo hoặc tiếp cận thông tin xấu độc.
Tuy nhiên, theo PGS.TS. Ninh Thị Kim Thoa, nếu quy định này được áp dụng đại trà vẫn có không ít băn khoăn. Bởi quy định trên mới mới chỉ dừng lại ở việc quản lý, hạn chế học sinh sử dụng điện thoại trong khuôn viên trường học. Còn khi về nhà, nếu phụ huynh buông lỏng quản lý thì rất khó đạt hiệu quả tích cực như mong muốn. Do vậy, cần có sự đồng hành giữa nhà trường, gia đình và xã hội mới đạt hiệu quả đích thực, toàn diện hơn.
Mặt khác, đối với gia đình, quy định cũng nên khuyến khích phụ huynh hạn chế hoặc không trang bị điện thoại thông minh riêng cho học sinh tiểu học nếu không thật sự cần thiết và làm gương trong việc hạn chế dùng điện thoại tại nhà. Xây dựng “vùng xanh kỹ thuật số”, không sử dụng điện thoại trong giờ ăn, trước giờ đi ngủ và tăng cường các hoạt động đọc sách, thể thao, giao tiếp trực tiếp trong gia đình.
Về phía nhà trường, cần tăng cường các hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ thể thao, đọc sách để thu hút học sinh tham gia vào giờ nghỉ. Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền thay vì chỉ cấm đoán: Tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề về kỹ năng số, giúp học sinh hiểu rõ lằn ranh giữa “sử dụng công nghệ để học tập” và “lạm dụng công nghệ để giải trí tiêu cực”.
Đề xuất lộ trình triển khai nhân rộng mô hình trên cả nước
Các chuyên gia, quản lý giáo dục cho rằng, thời gian tới mô hình của xã Hòa Vang (TP. Đà Nẵng) cần được các cấp có thẩm quyền nghiên cứu, áp dụng, nhân rộng đại trà trên quy mô toàn quốc. Tuy nhiên, đây là vấn đề mới, khó, trong bối cảnh các cơ sở pháp lý và hàng rào kỹ thuật bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng vẫn đang tiếp tục được hoàn thiện.
Vì vậy, hiệu quả của chính sách vẫn còn nhiều yếu tố phụ thuộc vào sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, nhà trường và gia đình nhằm giúp học sinh thích ứng an toàn với đời sống số, giảm thiểu các rủi ro trên không gian mạng.
Theo PGS.TS. Ninh Thị Kim Thoa, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần phối hợp với các ban ngành, địa phương đưa ra một khung quy định chung mang tính định hướng, làm cơ sở pháp lý cho các tỉnh, thành và trường học áp dụng tùy theo đặc thù địa phương.
Đồng thời, tiến hành khảo sát và thí điểm từng bước, không áp đặt cơ học mà cần có giai đoạn khảo sát thực trạng từng vùng miền (đô thị, nông thôn, miền núi). Nên thí điểm tại một số trường học, xã, phường đại diện trước khi nhân rộng ra toàn tỉnh và cả nước.
“Cần xây dựng quy trình đồng bộ tại trường học. Theo đó, các trường cần chuẩn bị hạ tầng quản lý (như tủ đựng điện thoại có khóa, đánh số hộp theo số thứ tự học sinh) và quy định rõ ràng trách nhiệm của giáo viên chủ nhiệm trong việc thu - trả điện thoại để tránh thất lạc, hư hỏng…” - PGS.TS. Ninh Thị Kim Thoa kiến nghị.