Giá trị xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản đạt 25 tỷ đô la Mỹ vào năm 2030

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
(GLO)- Tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp bình quân đạt 5,0% đến 5,5%/năm. Giá trị xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản đạt 20 tỷ đô la Mỹ vào năm 2025 và 25 tỷ đô la Mỹ vào năm 2030.

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 895/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch lâm nghiệp quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Mục tiêu xây dựng ngành lâm nghiệp trở thành một ngành kinh tế, kỹ thuật trên cơ sở thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp; đảm bảo sự tham gia rộng rãi, bình đẳng của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động lâm nghiệp, huy động các nguồn lực xã hội; phát huy tối đa các tiềm năng, vai trò và giá trị của rừng để phát triển bền vững; đóng góp ngày càng tăng vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ môi trường, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Giá trị xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản đạt 25 tỷ đô la Mỹ vào năm 2030 (ảnh nguồn vneconomy.vn)

Giá trị xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản đạt 25 tỷ đô la Mỹ vào năm 2030 (ảnh nguồn vneconomy.vn)

Cụ thể, đảm bảo duy trì tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc ổn định từ 42% đến 43%, chú trọng nâng cao chất lượng rừng, nhất là rừng tự nhiên hiện có. Tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp bình quân đạt 5,0% đến 5,5%/năm. Giá trị xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản đạt 20 tỷ đô la Mỹ vào năm 2025 và 25 tỷ đô la Mỹ vào năm 2030; giá trị tiêu thụ đồ gỗ và lâm sản trong nước đạt 5 tỷ đô la Mỹ (quy đổi) vào năm 2025, 6 tỷ đô la Mỹ (quy đổi) vào năm 2030.

Đến năm 2025, giá trị thu nhập từ rừng trồng sản xuất trên một đơn vị diện tích tăng 1,5 lần, đến năm 2030 tăng 2 lần so với năm 2020.

Đến 2030, 100% diện tích rừng của các chủ rừng là tổ chức được quản lý bền vững nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng sinh học và đảm bảo chức năng phòng hộ của rừng, giảm thiểu tối đa các vụ vi phạm pháp luật về lâm nghiệp.

Đến năm 2050, xây dựng ngành lâm nghiệp trở thành một ngành kinh tế, kỹ thuật, phát huy tiềm năng và lợi thế của tài nguyên rừng nhiệt đới; ứng dụng công nghệ hiện đại và thân thiện với môi trường; tạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ, giá trị gia tăng cao, chủ động tham gia chuỗi cung ứng giá trị toàn cầu; đóng góp ngày càng tăng vào sự phát triển bền vững của đất nước; góp phần cải thiện sinh kế, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn gắn với việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống và không gian sinh tồn của đồng bào các dân tộc; bảo đảm giữ vững quốc phòng, an ninh của đất nước...

Theo định hướng quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc đến năm 2030, về phát triển rừng: Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, chọn tạo giống mới có năng suất, chất lượng cao, giống cây bản địa mọc nhanh có năng suất, chất lượng phục vụ phát triển rừng sản xuất, rừng gỗ lớn. Đảm bảo cung cấp bình quân 575 triệu cây/năm.

Giai đoạn 2021-2025, trồng 1.178,4 ngàn ha, bình quân 235,7 ngàn ha/năm (trồng mới 178,4 ngàn ha, bình quân 35,7 ngàn ha/năm); giai đoạn 2026-2030, trồng 1.288,8 ngàn ha, bình quân 257,8 ngàn ha/năm (trồng mới là 88,8 ngàn ha, bình quân 17,8 ngàn ha/năm). Diện tích trồng rừng gỗ lớn đến năm 2030 dự kiến đạt 1,0 triệu ha.

Đến năm 2025, diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững đạt khoảng 500 ngàn ha và sẽ đạt khoảng 1 triệu ha vào năm 2030.

Chế biến, thương mại gỗ và lâm sản: Ưu tiên sử dụng trang thiết bị hiện đại, tự động hoá, chuyên môn hoá. Khuyến khích phát triển công nghệ tạo ra các sản phẩm chất lượng, có giá trị gia tăng cao. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua đổi mới nội dung chương trình đào tạo, gắn đào tạo với thực tiễn; đào tạo trên cơ sở đặt hàng và nhu cầu của doanh nghiệp. Ưu tiên ngân sách nhà nước cho đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất cho các đơn vị đào tạo. Ưu tiên phát triển trung tâm giao dịch gỗ tại các khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao; xây dựng 1 trung tâm giao dịch sản phẩm gỗ quốc tế; xây dựng các chương trình, kế hoạch xúc tiến thương mại, phát triển thị trường...

Khái toán nhu cầu vốn thực hiện quy hoạch là 217.305 tỷ đồng. Trong đó, giai đoạn 2021-2025, khoảng 106.960 tỷ đồng (Ngân sách nhà nước khoảng 27.517 tỷ đồng, chiếm 26%, các nguồn vốn hợp pháp khác khoảng 79.443 tỷ đồng, chiếm 74%).

Có thể bạn quan tâm

Giá chanh dây tăng nhưng nguồn cung vẫn thiếu hụt.

Gia Lai: Giá chanh dây tăng cao, nguồn cung thiếu hụt

(GLO)- Sau Tết Bính Ngọ 2026, giá chanh dây liên tục tăng cao, mang lại lợi nhuận cho nông dân. Tuy nhiên, nguồn cung ngày càng khan hiếm, nhiều cơ sở thu mua hoạt động cầm chừng. Nếu không sớm ổn định vùng nguyên liệu thì sẽ thiếu hụt nguồn cung cho chế biến và xuất khẩu.

Linh hoạt điều tiết nước tưới để “né hạn”.

Gia Lai: Linh hoạt điều tiết nước tưới để “né hạn”

(GLO)- Cao điểm mùa khô đã bắt đầu ở phía Tây tỉnh, trùng với giai đoạn quyết định năng suất cây trồng, nhất là cà phê. Chủ động né hạn, các đơn vị liên quan, chính quyền các địa phương và người dân cùng thực hiện phương án điều tiết nước linh hoạt, bảo đảm sản xuất.

Mùa gọt mì trên núi

Mùa thu hoạch mì trên núi

(GLO)- Khi vùng cao nguyên phía Tây tỉnh Gia Lai bước vào cao điểm mùa khô cũng là lúc bà con dân tộc thiểu số lên núi thu hoạch mì xắt lát phơi khô. Tiếng cười nói hân hoan giữa núi đồi tạo nên bức tranh lao động với những sắc màu tươi mới đầu năm.

Người trồng mai chuẩn bị vụ mới

Người trồng mai chuẩn bị vụ mới

(GLO)- Sau mùa hoa Tết nhiều biến động, người trồng mai ở 2 phường An Nhơn Đông và An Nhơn Bắc (tỉnh Gia Lai) lại tất bật bước vào vụ chăm sóc mới. Những công đoạn “đại phẫu” như xuống lá, tỉa cành, thay đất được thực hiện khẩn trương, gửi gắm kỳ vọng vào một mùa hoa Tết năm sau khởi sắc hơn.

Kỳ vọng cây ca cao trên vùng đất khó Pờ Tó.

Cây ca cao mở ra hy vọng trên vùng đất khó Pờ Tó

(GLO)- Những cây ca cao xanh mướt, sai trái tại trang trại 30 ha của Công ty TNHH Ca cao Trọng Đức ở xã vùng khó Pờ Tó đang thắp lên nhiều hy vọng. Không chỉ chứng minh sự phù hợp về thổ nhưỡng, khí hậu, cây ca cao còn mở ra hướng hình thành vùng nguyên liệu bền vững, gắn với tiêu thụ ổn định.

null