Thị trường cà phê và hồ tiêu ngày 5/8 ghi nhận diễn biến phân hóa. Giá cà phê trong nước giảm nhẹ, với mức trung bình được ghi nhận là 96.500 đồng/kg, thấp hơn 100 đồng/kg so với lần cập nhật trước.
Trong khi đó, Đắk Lắk, Lâm Đồng và Gia Lai giữ nguyên giá thu mua, Đắk Nông (Lâm Đồng) giảm 200 đồng/kg, xuống còn 96.500 đồng/kg.
Trên thị trường quốc tế, giá cà phê Robusta London tăng tại tất cả kỳ hạn, nhưng Arabica New York lại giảm mạnh từ 2,98% đến 3,79%. Giá hồ tiêu trong nước không thay đổi, tiếp tục dao động từ 138.000 đến 141.000 đồng/kg.
Giá cà phê trong nước hôm nay 5/8/2026 giảm nhẹ
Giá cà phê trong nước hôm nay giảm trung bình 100 đồng/kg, xuống mức 96.500 đồng/kg. Tuy nhiên, biến động không diễn ra đồng đều giữa các địa phương.
Đắk Lắk và Gia Lai tiếp tục thu mua cà phê ở mức 96.500 đồng/kg. Giá tại Lâm Đồng giữ nguyên mức 96.000 đồng/kg, thấp nhất trong các khu vực khảo sát.
Đắk Nông (Lâm Đồng) là địa phương duy nhất điều chỉnh giá, giảm 200 đồng/kg xuống còn 96.500 đồng/kg.
| Thị trường | Giá thu mua | Thay đổi |
|---|---|---|
| Đắk Lắk | 96.500 đồng/kg | Không đổi |
| Lâm Đồng | 96.000 đồng/kg | Không đổi |
| Gia Lai | 96.500 đồng/kg | Không đổi |
| Đắk Nông (Lâm Đồng) | 96.500 đồng/kg | Giảm 200 đồng/kg |
| Trung bình | 96.500 đồng/kg | Giảm 100 đồng/kg |
Khoảng cách giữa mức giá cao nhất và thấp nhất hiện chỉ còn 500 đồng/kg. Mặt bằng giá giữa các vùng sản xuất vì vậy tương đối đồng đều.
So với ngày trước đó, thị trường cà phê nội địa chưa xuất hiện biến động lớn. Mức giảm chủ yếu đến từ việc điều chỉnh giá tại Đắk Nông (Lâm Đồng), trong khi ba địa phương còn lại đứng yên.
Giá cà phê Robusta London đồng loạt tăng
Trên sàn London, giá cà phê Robusta tăng tại tất cả kỳ hạn. Hợp đồng giao tháng 9/2026 tăng 4 USD/tấn, tương đương 0,11%, lên mức 3.786 USD/tấn.
Hợp đồng tháng 11/2026 tăng 9 USD/tấn, đạt 3.784 USD/tấn. Các kỳ hạn giao trong năm 2027 tăng từ 12 đến 15 USD/tấn.
| Kỳ hạn | Giá khớp | Thay đổi | Cao nhất | Thấp nhất |
| 09/26 | 3.786 USD/tấn | +4 USD, +0,11% | 3.835 | 3.768 |
| 11/26 | 3.784 USD/tấn | +9 USD, +0,24% | 3.828 | 3.765 |
| 01/27 | 3.756 USD/tấn | +12 USD, +0,32% | 3.801 | 3.738 |
| 03/27 | 3.729 USD/tấn | +14 USD, +0,38% | 3.772 | 3.710 |
| 05/27 | 3.706 USD/tấn | +15 USD, +0,41% | 3.744 | 3.691 |
Đơn vị giao dịch cà phê Robusta trên sàn London là lot, mỗi lot tương đương 10 tấn.
Mức tăng mạnh dần ở các hợp đồng giao xa cho thấy giá Robusta vẫn nhận được lực hỗ trợ. Tuy nhiên, hợp đồng tháng 9/2026 có thời điểm dao động khá rộng, từ 3.768 đến 3.835 USD/tấn.
Khối lượng giao dịch tập trung nhiều nhất ở kỳ hạn tháng 11/2026 với 9.779 lot, tiếp đến là hợp đồng tháng 9/2026 với 8.560 lot.
Giá cà phê Arabica New York giảm gần 4%
Trái ngược với diễn biến của Robusta, giá cà phê Arabica trên sàn New York giảm mạnh tại toàn bộ các kỳ hạn.
Hợp đồng giao tháng 9/2026 giảm 12,60 US cent/lb, tương đương 3,79%, xuống còn 319,50 US cent/lb. Đây là kỳ hạn có mức giảm mạnh nhất trong phiên.
Hợp đồng tháng 12/2026 giảm 9,95 US cent/lb, xuống còn 304,70 US cent/lb. Các kỳ hạn còn lại giảm từ 2,98% đến 3,06%.
| Kỳ hạn | Giá khớp | Thay đổi | Cao nhất | Thấp nhất |
| 09/26 | 319,50 US cent/lb | -12,60, -3,79% | 332,65 | 317,25 |
| 12/26 | 304,70 US cent/lb | -9,95, -3,16% | 314,80 | 302,60 |
| 03/27 | 295,95 US cent/lb | -9,35, -3,06% | 304,90 | 293,85 |
| 05/27 | 294,60 US cent/lb | -9,20, -3,03% | 303,05 | 292,65 |
| 07/27 | 294,20 US cent/lb | -9,05, -2,98% | 302,50 | 292,35 |
Đơn vị niêm yết của cà phê Arabica là US cent/lb, trong đó 1 lb tương đương khoảng 0,45 kg. Mỗi lot giao dịch tương đương khoảng 17 tấn.
Khối lượng giao dịch tại kỳ hạn tháng 9/2026 đạt 17.659 lot, trong khi hợp đồng tháng 12/2026 ghi nhận 16.612 lot.
Việc Arabica giảm mạnh trong khi Robusta tăng cho thấy hai thị trường đang diễn biến trái chiều. Điều này cũng khiến giá cà phê trong nước chưa nhận được động lực tăng rõ ràng từ thị trường quốc tế.
Giá hồ tiêu hôm nay 5/8/2026 đi ngang
Giá hồ tiêu trong nước hôm nay không thay đổi tại các vùng sản xuất trọng điểm. Mức thu mua tiếp tục dao động trong khoảng 138.000 – 141.000 đồng/kg.
Đắk Nông (Lâm Đồng) duy trì mức cao nhất là 141.000 đồng/kg. Đắk Lắk đứng ở mức 140.000 đồng/kg.
Gia Lai, Bà Rịa – Vũng Tàu (TP.HCM) và Bình Phước (Đồng Nai) cùng thu mua hồ tiêu ở mức 138.000 đồng/kg.
| Khu vực | Giá trung bình | Thay đổi |
| Gia Lai | 138.000 đồng/kg | Không đổi |
| Bà Rịa – Vũng Tàu (TP.HCM) | 138.000 đồng/kg | Không đổi |
| Đắk Lắk | 140.000 đồng/kg | Không đổi |
| Bình Phước (Đồng Nai) | 138.000 đồng/kg | Không đổi |
| Đắk Nông (Lâm Đồng) | 141.000 đồng/kg | Không đổi |
| Trung bình | 139.000 đồng/kg | Không đổi |
Khoảng cách giữa mức giá cao nhất và thấp nhất tiếp tục giữ ở mức 3.000 đồng/kg.
Sau phiên giảm trước đó, thị trường hồ tiêu hiện tạm thời ổn định. Giá tại các địa phương chưa xuất hiện điều chỉnh mới, cho thấy cả bên mua và bên bán vẫn đang thận trọng.
Giá tiêu Ấn Độ giữ ổn định
Tại thị trường Ấn Độ, giá các loại tiêu tiếp tục không thay đổi so với ngày trước đó.
Tiêu GARBLED được giao dịch ở mức 71.400 rupee/tạ, quy đổi khoảng 204.047 đồng/kg. Tiêu UNGARBLED đứng ở mức 69.400 rupee/tạ, tương đương 198.332 đồng/kg.
| Loại tiêu | Giá rupee/tạ | Thay đổi | Giá quy đổi |
| GARBLED | 71.400 | 0 | 204.047 đồng/kg |
| Gram/lít | 68.400 | 0 | 195.474 đồng/kg |
| UNGARBLED | 69.400 | 0 | 198.332 đồng/kg |
Mức giá quy đổi sang tiền Việt có thể thay đổi theo biến động tỷ giá tại thời điểm tính toán.
Thị trường cà phê phân hóa, hồ tiêu chờ tín hiệu mới
Diễn biến ngày 5/8 cho thấy thị trường cà phê quốc tế có sự phân hóa rõ rệt. Robusta London tăng từ 4 đến 15 USD/tấn, trong khi Arabica New York giảm từ 2,98% đến 3,79%.
Tại thị trường trong nước, giá cà phê chỉ điều chỉnh nhẹ, với mức trung bình giảm 100 đồng/kg. Đắk Nông (Lâm Đồng) là khu vực duy nhất giảm giá, trong khi Đắk Lắk, Gia Lai và Lâm Đồng giữ nguyên.
Giá hồ tiêu trong nước tiếp tục đi ngang sau phiên giảm trước đó. Thị trường chưa xuất hiện thêm tín hiệu mới từ giá tiêu Ấn Độ.
Trong ngắn hạn, giá cà phê có thể tiếp tục chịu tác động từ diễn biến trái chiều của hai sàn London và New York. Với hồ tiêu, hoạt động thu mua của doanh nghiệp và lượng hàng được đưa ra thị trường sẽ là những yếu tố cần theo dõi.