Mở rộng vùng nguyên liệu đạt chuẩn
Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh về xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn gắn với liên kết chuỗi, chế biến sâu và xuất khẩu, thời gian qua, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã phối hợp với các địa phương hỗ trợ doanh nghiệp, HTX và người dân tổ chức lại sản xuất, phát triển các vùng nguyên liệu cây trồng hàng hóa tập trung.
Đồng thời, ngành nông nghiệp đẩy mạnh chuẩn hóa quy trình sản xuất, xây dựng mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.
Đến nay, toàn tỉnh đã được cấp 338 mã số vùng trồng xuất khẩu với tổng diện tích hơn 11.510 ha, tăng 83 mã số so với cuối năm 2025. Trong đó, sầu riêng dẫn đầu với 84 mã số vùng trồng trên diện tích 1.914 ha; chuối với 64 mã số với 3.723 ha, ớt 60 mã số trên diện tích 715,6 ha, chanh leo 48 mã số với 1.153 ha và khoai lang 38 mã số với 929 ha. Ngoài ra còn có xoài, thanh long, dưa hấu, mít, dừa, hồ tiêu được cấp mã số ở nhiều địa phương trong tỉnh.
Hệ thống cơ sở đóng gói cũng phát triển mạnh. Toàn tỉnh hiện có 53 mã số cơ sở đóng gói trái cây xuất khẩu, với tổng công suất từ 2.670-2.885 tấn quả tươi mỗi ngày, tăng 13 cơ sở so với cuối năm 2025. Nhờ đó, nông sản của tỉnh đã có mặt tại nhiều thị trường và khó tính như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, EU, Trung Quốc…
Ông Trần Xuân Khải - Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Sở Nông nghiệp và Môi trường) cho biết: “Mã số vùng trồng là tấm hộ chiếu để nông sản của tỉnh xuất khẩu chính ngạch và nâng cao giá trị.
Khi có mã số, sản phẩm được truy xuất nguồn gốc rõ ràng, quy trình canh tác minh bạch, đáp ứng yêu cầu về an toàn thực phẩm và kiểm dịch của nước nhập khẩu; đồng thời giúp người nông dân hưởng mức giá ổn định, tương xứng với công sức đầu tư”.
Liên kết chuỗi nâng giá trị nông sản
Công ty CP Nông nghiệp Gila Foods (xã Bàu Cạn) hiện liên kết sản xuất hơn 219 ha chuối tại xã Bàu Cạn và xã A Yun. Trong đó, 100 ha đã đạt chứng nhận GlobalG.A.P.
Bà Nguyễn Thị Ngọc Minh - Tổng Giám đốc Công ty - cho biết, Công ty chủ động tổ chức toàn bộ chuỗi sản xuất từ canh tác, kiểm soát chất lượng, thu hoạch, đóng gói đến xuất khẩu nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc. Sản phẩm hiện được xuất khẩu chủ yếu sang Nhật Bản và Hàn Quốc.
Không chỉ các doanh nghiệp lớn, nhiều HTX cũng từng bước khẳng định vị trí trong chuỗi liên kết. HTX Nông nghiệp Thương mại và Dịch vụ Chư Prông (xã Chư Prông) đang liên kết với 8 hộ dân trên diện tích 20 ha sầu riêng, hỗ trợ kỹ thuật và hướng dẫn sản xuất theo quy trình thống nhất để xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn xuất khẩu.
Trong khi đó, Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Trái cây Việt (xã Chư Prông) đang liên kết phát triển thêm 200 ha sầu riêng. Doanh nghiệp đã hoàn thiện mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và mã cấp đông phục vụ xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc.
Theo ông Vũ Văn Gan - Giám đốc Công ty, nhờ đồng hành cùng nông dân từ khâu sản xuất đến tiêu thụ, năng suất sầu riêng trong chuỗi liên kết tăng từ khoảng 20 tấn/ha lên 35-40 tấn/ha, giúp thu nhập của các hộ dân tăng từ 20-30%.
Hiện toàn tỉnh có 226 chuỗi liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ trên diện tích hơn 253 nghìn héc ta, với sự tham gia của 101 HTX, 72 tổ hợp tác, 47 nông hội và 77 doanh nghiệp. Riêng 6 tháng đầu năm 2026, tỉnh hình thành thêm 14 chuỗi liên kết mới với gần 2.116 ha.
Bên cạnh xuất khẩu quả tươi, tỉnh đang đẩy mạnh phát triển các chuỗi chế biến sâu nhằm nâng cao giá trị gia tăng và giảm phụ thuộc vào một số thị trường.
Đối với cà phê, mục tiêu đến năm 2030 là mở rộng khoảng 35.500 ha liên kết mới, ưu tiên phát triển cà phê đặc sản, cà phê hữu cơ gắn với du lịch trải nghiệm.
Với sầu riêng, tỉnh khuyến khích phát triển các sản phẩm chế biến như cấp đông, múi tách, bánh kẹo và sản phẩm từ phụ phẩm. Chuỗi chanh leo được định hướng phát triển theo hướng cấp đông và nước ép cô đặc, tận dụng lợi thế hệ thống nhà máy chế biến hiện có.
Theo ông Trần Xuân Khải, việc được cấp mã số vùng trồng mới chỉ là bước khởi đầu; duy trì mã số và giữ uy tín với thị trường nhập khẩu mới là thách thức lớn nhất.
Hiện số lượng mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói vẫn chưa tương xứng với quy mô sản xuất và nhu cầu xuất khẩu. Bên cạnh đó, sản xuất còn manh mún, liên kết chưa chặt chẽ, tình trạng thu gom nông sản ngoài vùng đã được cấp mã số vẫn xảy ra ở một số nơi.
Để khắc phục những tồn tại này, ngành nông nghiệp tỉnh và các địa phương tăng cường quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và công tác kiểm nghiệm nông sản phục vụ xuất khẩu.
Đồng thời, rà soát, tổ chức lại sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu tập trung quy mô lớn đạt chuẩn gắn với phát triển mã số vùng trồng; đồng thời đẩy mạnh liên kết chuỗi bền vững.