Kết quả nghiên cứu này được công bố tại Hội nghị thường niên của Hiệp hội Ung thư Lâm sàng Mỹ (ASCO) diễn ra ở Chicago (Mỹ).
Theo dữ liệu thử nghiệm, bệnh nhân được điều trị bằng thuốc ivonescimab kết hợp hóa trị có thời gian sống trung bình đạt 27,9 tháng, cao hơn đáng kể so với mức 23,7 tháng ở nhóm sử dụng Tevimbra kết hợp hóa trị.
Nghiên cứu được thực hiện trên 532 bệnh nhân mới được chẩn đoán mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ thể vảy giai đoạn III hoặc IV tại Trung Quốc. Đây là thử nghiệm đối đầu trực tiếp giữa ivonescimab và Tevimbra trong điều trị bước một, với tất cả bệnh nhân đều được chỉ định hóa trị.
Trước đó, vào tháng 10-2025, hãng dược Akeso của Trung Quốc cho biết, ivonescimab đạt mục tiêu chính của nghiên cứu khi giúp giảm 40% nguy cơ bệnh tiến triển hoặc tử vong so với Tevimbra. Dữ liệu về thời gian sống toàn bộ của bệnh nhân chỉ mới được công bố trong đợt cập nhật lần này.
Được biết, ung thư phổi hiện vẫn là nguyên nhân gây tử vong do ung thư hàng đầu thế giới. Trong đó, ung thư phổi không tế bào nhỏ thể tế bào vảy (squamous NSCLC) chiếm khoảng 25% tổng số ca mắc. Đây được xem là một trong những nhóm bệnh khó điều trị nhất bởi số lượng lựa chọn thuốc còn hạn chế hơn nhiều so với các thể ung thư phổi khác.
Thuốc ivonescimab do hãng dược Akeso phát triển giúp bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ thể vảy giai đoạn tiến triển kéo dài thời gian sống thêm 15% so với liệu pháp miễn dịch hiện hành Tevimbra, đồng thời giảm hơn 1/3 nguy cơ tử vong.
Akeso cho rằng, với việc giúp bệnh nhân sống lâu hơn trong khi các tác dụng phụ vẫn được đánh giá ở mức chấp nhận được, ivonescimab có thể trở thành lựa chọn điều trị tiêu chuẩn mới cho bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ thể vảy giai đoạn tiến triển.
Phát biểu tại cuộc họp báo trước thềm ASCO, Tiến sĩ David Spigel - Giám đốc Y khoa Viện Nghiên cứu Sarah Cannon (Mỹ) nhận định kết quả nghiên cứu là "rất đáng khích lệ".
Tuy nhiên, ông cũng lưu ý vẫn cần thêm dữ liệu trên các nhóm dân số khác để đánh giá liệu hiệu quả ghi nhận tại Trung Quốc có thể được tái lập ở quy mô toàn cầu hay không, do sự khác biệt về đặc điểm di truyền và chủng tộc đôi khi ảnh hưởng đến đáp ứng điều trị.
Hiện 1 thử nghiệm toàn cầu giai đoạn cuối đang được triển khai nhằm so sánh trực tiếp. Dữ liệu phân tích tạm thời dự kiến sẽ được công bố trong năm nay và được kỳ vọng sẽ đóng vai trò quan trọng trong quá trình xem xét cấp phép tại Mỹ.