Qua đó, từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu vùng nguyên liệu, nâng cao hiệu quả quản lý, đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn của các thị trường xuất khẩu.
Gia Lai tăng tốc chuẩn hóa dữ liệu vùng trồng cà phê, sầu riêng. Ảnh: Hà Duy
Từ mã số vùng trồng đến quản trị vùng nguyên liệu
Theo kế hoạch của UBND tỉnh, chiến dịch rà soát, thu thập và chuẩn hóa dữ liệu vùng trồng được triển khai tại 61 xã, phường có sản xuất sầu riêng và cà phê.
Dữ liệu được rà soát, cập nhật gồm thửa đất, diện tích, giống cây, tuổi cây, sản lượng dự kiến, quy trình sản xuất và nhu cầu xuất khẩu. Việc rà soát được thực hiện khẩn trương. Đối với sầu riêng, thời gian rà soát từ ngày 5-9 đến 5-10; đối với cà phê, từ ngày 5-9 đến 5-12.
Theo ông Huỳnh Việt Hùng - Giám đốc Trung tâm Khuyến nông (Sở Nông nghiệp và Môi trường), triển khai Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP, đặc biệt với những mặt hàng có giá trị kinh tế cao, hướng đến xuất khẩu như cà phê, sầu riêng, yêu cầu quan trọng là bảo đảm sự chuẩn chỉnh từ quy trình cấp mã số đến tiêu chuẩn hàng hóa nhằm giữ gìn uy tín thương hiệu nông sản Việt Nam.
“Một mã số chỉ thực sự có giá trị khi dữ liệu phía sau phản ánh đúng thực tế sản xuất” - ông Hùng nói.
Trước đây, việc cấp mã số vùng trồng còn nhiều khâu và thẩm quyền, chủ yếu tập trung ở cấp tỉnh, Trung ương. Theo Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP, quy trình này được đơn giản hóa trên môi trường mạng theo nguyên tắc tự khai, tự chịu trách nhiệm gắn với hậu kiểm; thẩm quyền cấp mã số vùng trồng được phân cấp về UBND cấp xã.
Sản phẩm bưởi da xanh của hộ nông dân liên kết với HTX Nông nghiệp Thanh niên Hoài Ân (xã Hoài Ân). Ảnh: ĐVCC
Đối với trường hợp thông thường, chủ tịch UBND cấp xã cấp mã số trong thời hạn không quá 3 ngày làm việc nếu hồ sơ hợp lệ; trường hợp phục vụ xuất khẩu, thời hạn tối đa 10 ngày làm việc, kèm kiểm tra các yêu cầu kỹ thuật của thị trường nhập khẩu.
Ông Trần Đức Hậu - Phó Chủ tịch UBND xã Chư Pưh - cho biết: Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP có 3 thay đổi cốt lõi: Không giới hạn diện tích tối thiểu (người dân có 1 sào vẫn được cấp mã số); cho phép một thửa đất có thể được cấp nhiều mã số tương ứng với các loại cây trồng khác nhau, hoàn toàn phù hợp với tập quán xen canh cà phê và sầu riêng của bà con; phân cấp việc cấp mã số về cơ sở, giúp rút ngắn thời gian chờ đợi của người dân.
Phân cấp cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với cấp xã trong tiếp nhận hồ sơ, chuẩn hóa dữ liệu, hậu kiểm và duy trì mã số. Theo ông Huỳnh Việt Hùng, Trung tâm Khuyến nông được giao triển khai 61 lớp tập huấn tại các xã, phường trọng điểm và 15 lớp chuyên sâu cho lực lượng khuyến nông cộng đồng, nông dân nòng cốt.
Đến nay, Trung tâm đã thực hiện 24/61 lớp; đồng thời thành lập 4 tổ công tác phối hợp với Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Sở Nông nghiệp và Môi trường) bám sát cơ sở, hướng dẫn lãnh đạo xã, bộ phận một cửa, tổ công nghệ số cộng đồng và trưởng thôn, bản.
Xây dựng “hồ sơ số” cho nông sản
Với chiến dịch này, các HTX, hộ sản xuất, kinh doanh cũng không đứng ngoài cuộc. Tại xã Chư Prông, HTX Sầu riêng hữu cơ Ia Phìn đang quản lý khoảng 220 ha với 61 thành viên; trong đó 70 ha đã được cấp 2 mã số vùng trồng xuất khẩu.
Điểm nổi bật là HTX canh tác hữu cơ, không sử dụng phân bón hóa học trên diện tích được cấp mã số và áp dụng quy trình kiểm soát dư lượng nghiêm ngặt. Nhờ đó, năng suất sầu riêng đạt hơn 28 tấn/ha và sản phẩm tham gia chuỗi xuất khẩu liên tục nhiều năm.
Vùng trồng sầu riêng của Hợp tác xã Sầu riêng hữu cơ Ia Phìn (xã Chư Prông). Ảnh: Hà Duy
Ông Lê Danh Lăng - Chủ tịch Hội đồng quản trị HTX Sầu riêng hữu cơ Ia Phìn - cho biết: Tổ chức sản xuất theo quy trình giúp người dân chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa, kiểm soát được chất lượng và nguồn gốc. Chiến dịch chuẩn hóa dữ liệu lần này cũng mở thêm cơ hội để HTX khẳng định vị thế sản phẩm sầu riêng hữu cơ.
Theo Trung tâm Khuyến nông, sau sầu riêng và cà phê, việc rà soát, chuẩn hóa mã số vùng trồng sẽ tiếp tục được triển khai đối với các loại cây trồng khác, từng bước mở rộng nền tảng quản lý vùng nguyên liệu và truy xuất nguồn gốc. Tại xã Hoài Ân, HTX Nông nghiệp Thanh niên Hoài Ân đang liên kết với nông dân trồng hơn 460 ha bưởi da xanh theo hướng VietGAP.
Theo ông Lê Quốc Lập - Giám đốc HTX, đơn vị bao tiêu giúp người trồng đạt lợi nhuận khoảng 120 - 150 triệu đồng/ha/năm; đồng thời phấn đấu đến hết năm 2026 có thêm 100 ha đạt chuẩn VietGAP và 200 ha được cấp mã số vùng trồng xuất khẩu.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Dương Mah Tiệp cho biết, Gia Lai đang tập trung phát triển các vùng nguyên liệu chủ lực gắn với chế biến. Toàn tỉnh hiện có 451 mã vùng trồng, tổng diện tích hơn 13.420 ha; trong đó có 346 mã vùng trồng xuất khẩu, diện tích hơn 11.660 ha, được Tổng cục Hải quan Trung Quốc phê duyệt.
Ngoài ra, tỉnh có 53 mã số cơ sở đóng gói trái cây xuất khẩu sang các thị trường lớn như Trung Quốc, Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc và New Zealand.
Các vườn sầu riêng rộng lớn của tỉnh đang được khẩn trương chuẩn hóa mã số vùng trồng. Ảnh: Hà Duy
Trong bối cảnh các thị trường lớn ngày càng siết chặt yêu cầu về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và tính bền vững, mã số vùng trồng được xem như “hộ chiếu số” của vùng sản xuất, giúp xác định nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu truy xuất.
Vì vậy, chuẩn hóa dữ liệu vùng trồng là bước chuyển từ quản lý truyền thống sang quản trị bằng dữ liệu, tạo nền tảng để nông sản Gia Lai nâng cao năng lực cạnh tranh và đáp ứng yêu cầu thị trường xuất khẩu.