Hát ru: Nét văn hóa độc đáo của người Bahnar

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
(GLO)- Nếu có dịp về thăm các buôn làng Bahnar, chúng ta sẽ được thưởng thức những làn điệu hát ru êm đềm, lắng đọng như tâm hồn và cốt cách của những người gắn bó với núi rừng, sông suối trên cao nguyên hùng vĩ.

Cũng như nhiều dân tộc bản địa ở Tây Nguyên, từ ngàn đời nay, bằng con tim, khối óc, khát vọng vươn lên, đồng thời với việc bảo vệ, giữ gìn cuộc sống bình yên cho cộng đồng, người Bahnar đã sản sinh ra một kho tàng âm nhạc dân gian vừa phong phú vừa độc đáo. Trong đó, có những khúc hát ru lay động lòng người. Tính độc đáo của hát ru được thể hiện từ việc đặt tên cho các điệu hát đến đối tượng, nội dung, tính chất, không gian và thời gian thể hiện.

Người Bahnar gọi hát ru là Hơri pơlung/Hơri pơ lung/Pơ lung. Hát ru như tên gọi của nó, là hát để ru. Thế nhưng, người Bahnar không bao giờ gọi hát ru một cách chung chung mà lúc nào cũng dành cho một đối tượng cụ thể: Hơri pơ lung kon (Hát ru con), Hơri pơ lung oh (Hát ru em), Hơri pơ lung sâu (Hát ru cháu), Hơri pơ lung mon (Hát ru cháu). Cần phải nói thêm rằng, trong ngôn ngữ của người Bahnar thì từ sâu/sôu có nghĩa là cháu (được dùng trong mối quan hệ ông bà đối với các cháu và ngược lại); từ mon cũng có nghĩa là cháu nhưng được dùng trong mối quan hệ cô chú, bác gái, bác trai đối với các cháu và ngược lại. Do đó, “Pơ lung sâu” có nghĩa là bà hoặc ông ru cháu; “Pơ lung mon” có nghĩa là cô, chú hoặc bác gái, bác trai ru cháu. Tuy nhiên, cũng có lúc căn cứ vào đối tượng và nội dung mà người ta đặt tên riêng cho từng bài hát ru. Chẳng hạn như các bài sau đây: Gô me tanh brai (Chờ mẹ dệt vải), Nơr akhan (Lời khuyên), Pơ lung Krem (Hát ru Krem)...

Hội làng. Ảnh: Quốc Nguyễn

Hội làng. Ảnh: Quốc Nguyễn

Về ca từ, trong các khúc hát ru của người Bahnar, lời ca ngắn gọn, mộc mạc, đơn giản nhưng không kém phần tinh tế, bay bổng với lối so sánh, ví von độc đáo. Vẻ đẹp của con/em/cháu thường được so sánh với cỏ cây hoa lá, chim muông. Nội dung bài hát ru thường khuyên em bé đừng khóc (oh ’ne hmoi), bố đang bận việc rẫy nương, đi săn; mẹ đang bận dệt vải, xúc cá, nấu ăn; con/em/cháu hãy ngủ cho ngoan, cha mẹ về sẽ cho quà. Bên cạnh đó là những lời ca ca ngợi cảnh đẹp buôn làng và những lời khen con, cháu khỏe, đẹp: “Cháu ở nơi cảnh đẹp nhất rồi đó/Cháu phải ngoan/Bước đi của cháu nhẹ nhàng như ngọn tre đung đưa trong gió/Cháu khỏe như măng mọc/Cháu đẹp lắm cháu ơi” (Ru cháu). Và đây nữa: “Ơ hỡi em/Như con chim bé xinh/Chim ch’rao đáng yêu/Chim non chưa biết bay/Chim non chưa hát hay/Trong vòng tay chị yêu” (Ru em ngủ)...

Cái mà em bé cảm nhận là những âm thanh trầm bổng, nhẹ nhàng, âm điệu vỗ về được vang lên từ lời hát của cha mẹ, ông bà, cô bác... Những âm thanh ấy là những tín hiệu văn hóa đầu tiên mà em bé được tiếp xúc, hấp thụ. Đó là “dòng sông văn hóa cội nguồn”, là tâm hồn và cốt cách của dân tộc.

Nét độc đáo của hát ru của người Bahnar còn được thể hiện ở chỗ, tuy không nhắc đến bé trai hay bé gái nhưng ta vẫn biết được người mẹ đang hát ru em bé nào. Bởi lẽ, theo phong tục của người Bahnar nói riêng, một số tộc người thiểu số Tây Nguyên nói chung, con gái phải biết dệt vải, may áo; con trai phải biết đan gùi, đi săn. Đây là lời hát ru bé gái: “Con ơi, con ngủ nhé/Để cha lên rẫy, để mẹ lên nương/Ngoan nhé, con của mẹ/Rồi ngày mai khôn lớn/Con sẽ dệt vải giỏi, để may áo đẹp” (Ru con).

Cũng như nhiều dân tộc khác, trên cơ sở giai điệu của hát ru, đồng bào Bahnar đã sáng tạo ra nhiều lời ca mới. “Nín đi con để cha mẹ lên rẫy/Nín đi con để mẹ đi hái quả chín, mẹ trồng lúa, hái cà phê/Chị cõng con đi chơi nhé/Thấy chim đỏ bắt về chơi/Thấy chim xanh bắt về đùa/Con ngoan nhé” (Ru con). Như vậy, rõ ràng ca từ của bài hát ru này đã có sự “đổi mới” cho phù hợp với đời sống xã hội hiện nay. Xưa kia, người Bahnar chỉ biết làm nương rẫy thì nay còn biết trồng cà phê, trồng mía... “Nín đi con để mẹ đi hái quả chín, mẹ trồng lúa, hái cà phê”. Chỉ một câu hát ru ngắn gọn nhưng đã giúp cho người thưởng thức biết được cuộc sống mới với cung cách làm ăn mới đã và đang bừng lên trong các buôn làng Bahnar.

Bên mẹ. Ảnh: Quốc Nguyễn

Bên mẹ. Ảnh: Quốc Nguyễn

Về âm nhạc, hát ru của người Bahnar cũng mang tính chất chung của thể loại hát ru, giai điệu mềm mại, ít thấy hoặc nói đúng hơn là không có những bước nhảy quãng rộng (quãng 5, quãng 8 như hát ru của người H’Mông); tốc độ (tempo) chậm vừa, có lúc vừa phải (moderato). Cấu trúc âm nhạc khá chặt chẽ. Thông thường, bài hát ru có 2 câu hoặc 4 câu nhạc được lặp đi, lặp lại nhiều lần tùy theo nội dung ca từ. Thậm chí, có bài hát ru nội dung lời ca chỉ là một câu văn vần nhưng được thể hiện trên nhiều cung bậc khác nhau bằng các thủ pháp phát triển giai điệu: nhắc lại nguyên câu, hạ thấp độ cao... Chính điều đó làm cho tuyến giai điệu của bài hát ru có thay đổi cho phù hợp với ngữ âm của lời ca. Thế nhưng, tất cả bài hát ru nói riêng, dân ca nói chung của người Bahnar đều được xây dựng trên điệu thức 5 âm đặc trưng, trong đó, giai điệu thường phát triển xung quanh âm điệu 4 tăng mà các dân tộc khác không có. Do đó đã tạo nên những giai điệu huyền ảo như thực, như mơ. Mặt khác, các bài hát ru thường vào nhịp ngay từ đầu, kết thúc cũng vậy. Nghĩa là, người hát ru luôn luôn giữ đúng nhịp của bài hát từ đầu cho đến lúc kết thúc. Không thấy có trường hợp “dạo đầu láy đuôi” như người Thái hay “à ơi” dạo đầu trong hát ru của người Kinh.

Qua nhiều năm điền dã, nghiên cứu, chúng tôi được biết, chẳng mấy khi trẻ em ngủ trên sàn nhà lúc vắng người lớn, đặc biệt là trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo, mà lúc nào cũng thấy trẻ em được người lớn mang theo bên người (có thể sau lưng hoặc trước bụng). Trong các buôn làng của người Bahnar xưa kia không thấy bóng dáng của chiếc nôi hay chiếc võng. Những đặc điểm này đã tạo ra một không gian và thời gian hát ru không giới hạn. Hát ru được vang lên bất cứ thời gian nào trong ngày khi mà người lớn có nhu cầu cho em bé ngủ. Thông thường, người ta chỉ hát ru trong 2 hoàn cảnh điển hình: đến lúc cần phải ngủ mà em bé không chịu ngủ và em bé đang ngủ, vì một lý do nào đó chợt tỉnh dậy, khóc. Tất nhiên, cũng có lúc người ta hát ru chơi đùa với con cháu hoặc lúc con cháu đã ngủ và cũng có thể người ta hát (hát ru) cho nhiều người cùng thưởng thức. Đặc điểm của hát ru Bahnar còn được thể hiện ở chỗ: người hát ru bao giờ cũng vừa hát vừa vỗ nhẹ vào người em bé, vừa nhún người hoặc đung đưa người sang trái, sang phải (nếu đứng hát) nhẹ nhàng theo nhịp điệu của bài hát.

Xưa kia, tiếng hát ru của người Bahnar chỉ vang lên trong không gian văn hóa làng. Ngày nay, nhờ sự phát triển của khoa học và công nghệ với sự phát triển nhanh chóng của các phương tiện thông tin truyền thông, nhiều bài hát dân ca, trong đó có hát ru của người Bahnar đã vượt không gian văn hóa truyền thống đến với bạn bè trong và ngoài nước, được bạn bè đón nhận một cách nồng nhiệt.

Có thể bạn quan tâm

Việt Nam phấn đấu đến năm 2045 trở thành một trong những trung tâm văn hóa, sáng tạo hàng đầu khu vực

Infographic Việt Nam phấn đấu đến năm 2045 trở thành một trong những trung tâm văn hóa, sáng tạo hàng đầu khu vực

(GLO)- Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1306/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trong đó, Việt Nam đặt mục tiêu trở thành một trong những trung tâm văn hóa và sáng tạo hàng đầu của khu vực.

Họa sĩ Trần Lãng hướng dẫn họa sĩ Nguyễn Xuân Quang thực hành kỹ thuật sơn mài với tác phẩm lấy cảm hứng từ tuồng Bình Định.

“Trò chuyện” với sơn mài

(GLO)- Mỗi người một phong cách, một lối bày tỏ nội tâm khác nhau bằng ngôn ngữ hội họa song gần 20 họa sĩ tham gia Trại bồi dưỡng kỹ thuật và sáng tác sơn mài (phường Pleiku) đã có dịp kết nối, học hỏi và cảm nhận sức hấp dẫn của một chất liệu đậm chất truyền thống.

Dệt âm sắc quê hương qua những bản phối

Dệt âm sắc quê hương qua những bản phối

(GLO)- Nhận giấy khen của Cục trưởng Cục Văn hóa cơ sở, Gia đình và Thư viện (Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch) vì có thành tích xuất sắc tại hội diễn Ðàn, hát dân ca 3 miền toàn quốc năm 2026, nhạc sĩ Trần Kim Vân không xem đó là thành quả của riêng mình.

Ươm mầm văn học trẻ

Ươm mầm văn học trẻ

(GLO)- “Tình yêu văn học không bắt đầu từ những điều lớn lao mà từ thói quen đọc sách, sự quan sát cuộc sống và những trang viết đầu tiên của mỗi người”, Nghệ sĩ Ưu tú Đặng Công Hưng - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Gia Lai chia sẻ tại lớp bồi dưỡng sáng tác văn học trẻ năm 2026.

Hồn Gỗ: Lưu giữ ký ức, kết nối quê hương

E-magazine Hồn Gỗ: Lưu giữ ký ức, kết nối quê hương

(GLO)- Giữa nhịp sống sôi động, Hồn Gỗ (87 Ngô Thì Nhậm, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai) không đơn thuần là một quán cà phê mà là nơi ông Trần Đức Vinh (SN 1975) dành hơn 25 năm lưu giữ hơn 100 tác phẩm gỗ lũa cùng nhiều nông cụ, vật dụng gắn với quê hương Bình Định trước đây.

Giữ khán giả cho tương lai hát bội

Giữ khán giả cho tương lai hát bội

(GLO)- Cái khó của hát bội hôm nay không chỉ là giữ nghề, mà còn là giữ khán giả. Vì thế, NSND Xuân Hợi và nghệ nhân Trần Ngọc Vân không chỉ gắn bó với loại hình truyền thống này, mà còn miệt mài mang hát bội đến với các em thiếu nhi, gieo mầm tình yêu đề hình thành lớp khán giả tương lai.

Ông Nguyễn Hữu Thục kể lại ký ức về ngôi đình An Lương khi còn nguyên vẹn trước khi bị thiên tai tàn phá. Ảnh: Ngọc Nhuận

Đình làng An Lương: Nơi lưu giữ ký ức cộng đồng

(GLO)- Giữa vùng quê thôn Thái An (xã An Lương, tỉnh Gia Lai), cổng đình, trụ biểu và bình phong phủ rêu là những dấu tích còn lại của đình làng An Lương. Dẫu ngôi đình không còn, người dân vẫn duy trì việc cúng tế, cùng khát vọng phục hồi một không gian văn hóa đã ăn sâu vào ký ức cộng đồng.

Tiếng trống kơ-toang luôn gắn với các lễ hội truyền thống và sinh hoạt cộng đồng của người Chăm H’roi. Ảnh: Ngọc Nhuận

Tiếng trống kể chuyện đại ngàn

(GLO)- Giải A tại phần thi Liên hoan văn nghệ quần chúng của Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI-năm 2026 vừa diễn ra ở tỉnh Khánh Hòa vào cuối tháng 5 là phần thưởng xứng đáng dành cho tiết mục diễn tấu trống kơ-toang (trống đôi) của đoàn nghệ nhân Chăm H’roi xã Vân Canh (tỉnh Gia Lai).

Lễ tạ ơn của người Jrai vùng hạ lưu sông Ba

Lễ tạ ơn của người Jrai vùng hạ lưu sông Ba

(GLO)- Để bày tỏ lòng biết ơn cha mẹ, người Jrai có một nghi lễ thiêng liêng gọi là lễ tạ ơn (lễ báo hiếu). Hiện nay, nghi lễ này vẫn còn được bảo tồn khá nguyên vẹn ở nhiều cộng đồng Jrai vùng hạ lưu sông Ba với những nghi thức cổ truyền mang đậm bản sắc văn hóa tộc người.

Các vận động viên check-in cùng Ban tổ chức trên đỉnh núi Chư Mố. Ảnh: Vũ Chi

Vinh danh 95 sứ giả mặt trời Chư Mố

(GLO)- Sáng 5-7, UBND xã Ia Tul (tỉnh Gia Lai) đã bế mạc Ngày hội văn hóa-leo núi xã Ia Tul năm 2026 với chủ đề “Chư Mố-Hành trình về phía mặt trời” và vinh danh sứ giả mặt trời Chư Mố.

null