Đề nghị tiếp tục thực hiện thu thuế nông nghiệp sau năm 2020

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Nghiên cứu điều chỉnh chính sách đất đai nhằm thúc đẩy phát triển thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam là chủ đề cuộc hội thảo do Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương (CIEM) tổ chức sáng 30-11 tại Hà Nội.

Chỉ có khoảng 10% số hộ có thửa liền bờ

 

Ảnh internet
Ảnh internet

Theo Báo cáo của nhóm nghiên cứu được TS Nguyễn Hữu Thọ, Phó Trưởng Ban Chính sách phát triển nông thôn CIEM trình bày tại Hội thảo, một đặc điểm quan trọng trong sử dụng đất nông nghiệp tại Việt Nam là tính chất phân tán, nhỏ lẻ. Cả nước có khoảng 78 triệu thửa ruộng lớn nhỏ khác nhau; bình quân mỗi hộ có khoảng 2,5 thửa. Trong đó chỉ có khoảng 10% số hộ có thửa liền bờ. Tiềm năng cung của thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp có biến động lớn: số hộ sử dụng đất nông lâm thuỷ sản (NLTS) sau 5 năm đã giảm khoảng 1 triệu hộ; nhu cầu đất ở của hộ NLTS cũng giảm.

Song hành với quá trình rút lui khỏi nông nghiệp là quá trình tích tụ ruộng đất, hình thành những hộ đại điền và các trang trại. Năm 2016, cả nước có 35,5 nghìn trang trại, tăng tới 67,2% so với năm 2011, bình quân mỗi năm tăng 10%. Cũng thời điểm này, cả nước có gần 4.000 doanh nghiệp nông nghiệp, tăng 49% so với năm 2011; trong đó số doanh nghiệp lớn (từ 10 tỷ đồng trở lên) tăng tới 76,2%.

Trong bối cảnh đó, chính sách đất đai hiện hành đã bộc lộ rõ một số bất cập.

“Quy hoạch đang quá chi tiết đến từng nhóm đất nhỏ, thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất khá phức tạp; có địa phương còn hạn chế loại cây trồng trên đất. Việc tiếp tục áp dụng hình thức giao đất không thu tiền là chưa phù hợp với nguyên tắc của thị trường, chưa tạo được sự bình đẳng và phần nào làm cho hiệu quả sử dụng đất không cao”, chuyên gia CIEM bình luận.

Vẫn theo TS Nguyễn Hữu Thọ, quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như hiện nay (đăng ký đất đai là bắt buộc đối với người sử dụng đất sau biến động về chuyển nhượng và chủ sử dụng; chỉ khi có GCNQSDĐ mới được thực hiện các quyền về đất) tuy cơ bản là tốt, nhưng do có những khó khăn từ nhiều phía nên tỷ lệ mảnh ruộng chưa được cấp GCN vẫn khá cao (23,6%).

Đáng lưu ý, liên quan đến quyền tiếp cận đất, Luật hiện hành quy định, tổ chức kinh tế không được nhận quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng của hộ gia đình, cá nhân (Điều 191, Luật Đất đai).

Thời hạn giao đất, cho thuê đất là không quá 50 năm và hạn mức giao đất được khống chế đối với cây hàng năm là không quá 3ha (vùng Đông Nam bộ và ĐBSCL) và chỉ 2ha đối với các khu vực khác. Hạn mức nhận chuyển nhượng đất cây hàng năm không quá 10 lần hạn mức giao đất.

Đề nghị từng bước chuyển từ giao đất không thu tiền sang cho thuê đất

Kết quả điều tra của nhóm nghiên cứu cho thấy, cản trở lớn nhất đối với người mua, thuê thêm đất là thời gian sử dụng đất ngắn (95%); quy hoạch đang hạn chế cây trồng (32%); thủ tục cấp GCN rườm rà, tốn phí (29%) và hạn điền thấp (24%). Để tăng tính linh hoạt, tạo điều kiện phát triển thị trường, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, các nghiên cứu viên đã đưa ra nhiều kiến nghị.

Trong đó, về quy hoạch, nên định hướng theo hai nhóm. Quy hoạch cứng là việc Nhà nước đưa ra những vùng, những loại đất không được phép chuyển đổi quyền sử dụng. Quy hoạch mềm là việc Nhà nước đưa ra những vùng, những loại đất có tính tương đồng để người dân có thể chuyển đổi mục đích sử dụng một cách linh hoạt.

Về hình thức giao, cho thuê đất, đề nghị tiếp tục thực hiện thu thuế nông nghiệp sau năm 2020. Cần đánh giá, xây dựng lộ trình từng bước chuyển từ giao đất không thu tiền sang cho thuê đất, đồng thời xây dựng chính sách an sinh cho những đối tượng chính sách, hộ nghèo.

Về cấp GCN, cần có biện pháp tuyên truyền, xử phạt những hộ có biến động trong sử dụng đất mà không đăng ký lại.

 

Tính đến tháng 8-2013 cả nước có gần 43.000 hộ bỏ ruộng, nhiều hộ đã bỏ hoang ruộng 4-5 năm nay. Các nông lâm trường cũng đã trả lại cho địa phương khoảng 452.000 ha.

Về thời hạn sử dụng đất, kiến nghị không nên quy định thời hạn từng bước chuyển đất nông nghiệp sang sử dụng ổn định lâu dài, đồng nhất với các loại hình đất khác. Song song với đóm đề nghị nới rộng hạn mức nhận quyền chuyển nhượng QSDĐ.

Giải pháp khác là thay hạn mức “cứng” (không quá 10 lần) như hiện nay bằng hạn mức mềm, theo đó sử dụng chính sách thuế luỹ tiến theo mức sử dụng đất. 

Anh Phương/sggp

Có thể bạn quan tâm

gia-lai-xu-ly-dut-diem-ton-tai-chong-khai-thac-IUU

Gia Lai: Xử lý dứt điểm tồn tại trong chống khai thác IUU

(GLO)- Phó Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai Dương Mah Tiệp vừa ký ban hành Văn bản số 12699/UBND-NNMT yêu cầu các sở, ngành, lực lượng và địa phương liên quan khẩn trương khắc phục những tồn tại trong đợt cao điểm chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).

Liên kết sản xuất giúp cà phê Bờ Ngoong vươn xa

Liên kết sản xuất giúp cà phê Bờ Ngoong vươn xa

(GLO)- Từ những rẫy cà phê sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, người dân xã Bờ Ngoong (tỉnh Gia Lai) đang thay đổi cách làm bằng việc liên kết vào hợp tác xã (HTX), sản xuất theo quy trình bền vững, xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn và kết nối với doanh nghiệp để nâng tầm giá trị cà phê địa phương.

gia-lai-huong-dan-ngu-dan-khai-thac-hai-san-an-toan-hieu-qua

Gia Lai tăng cường hướng dẫn ngư dân khai thác hải sản an toàn, hiệu quả

(GLO)- Phó Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai Dương Mah Tiệp đã ký ban hành Văn bản 12566/UBND-NNMT gửi các sở, ngành, địa phương ven biển yêu cầu tăng cường hướng dẫn ngư dân khai thác hải sản phù hợp với ngư trường, nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo đảm an toàn cho người, tàu cá hoạt động trên biển.

Nâng cao giá trị ngành hàng chanh dây

Gia Lai đầu tư nâng cao giá trị ngành hàng chanh dây

(GLO)- Gia Lai có khoảng 5.500 ha chanh dây, sản lượng khoảng 210 nghìn tấn/năm. Từ quả chanh dây tươi, nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã đã tạo ra nhiều sản phẩm như dịch cấp đông, nước ép cô đặc, tinh cốt..., qua đó mở rộng đầu ra, nâng giá trị và giảm áp lực tiêu thụ trong mùa thu hoạch.

2,5 triệu ha rừng keo và nghịch lý bán nguyên liệu giá rẻ

2,5 triệu ha rừng keo và nghịch lý bán nguyên liệu giá rẻ

(GLO)- Việt Nam hiện có khoảng 2,5 triệu ha rừng keo, chiếm phần lớn diện tích rừng keo của thế giới. Thế nhưng khoảng 80% sản lượng gỗ keo vẫn được đưa vào sản xuất dăm gỗ và viên nén, đặt ra bài toán chuyển từ bán nguyên liệu giá trị thấp sang chế biến sâu, tạo giá trị cao hơn.

Học làm nông nghiệp qua những mùa cây

Học làm nông nghiệp qua những mùa cây

(GLO)- Từ mô hình sản xuất thực tế, Khoa Nông nghiệp và Môi trường đưa bài học vào kỹ năng nghề, lấy những vấn đề phát sinh làm chất liệu đổi mới đào tạo, gắn nhà trường với sản xuất và nhu cầu doanh nghiệp.

Chuyển đổi cây trồng hiệu quả, mở hướng giảm nghèo

Chuyển đổi cây trồng hiệu quả, mở hướng giảm nghèo

(GLO)- Từ những diện tích sản xuất kém hiệu quả, người dân xã Ia Tôr (tỉnh Gia Lai) đang từng bước thay đổi tư duy, lựa chọn cây trồng phù hợp để nâng cao hiệu quả sản xuất. Ðây cũng là hướng đi được xã thúc đẩy, đưa sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa, tạo sinh kế và giảm nghèo bền vững.

Ưu tiên nghiên cứu các giống cây trồng chủ lực

Ưu tiên nghiên cứu các giống cây trồng chủ lực

(GLO)- Bám sát định hướng sản xuất của tỉnh Gia Lai và các địa phương trong khu vực, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung Bộ (phường Quy Nhơn Nam) tập trung chọn tạo, chuyển giao các giống cây trồng có năng suất, chất lượng, khả năng thích ứng tốt.

null