Làm mới nghề xưa

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

(GLO)- Trước yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường, nhiều làng nghề ở Gia Lai đã thay đổi, sáng tạo, đưa sản phẩm truyền thống vượt qua giới hạn cũ để khẳng định vị thế trong đời sống hiện đại.

Tính đến cuối năm 2025, tỉnh Gia Lai có khoảng 60 làng nghề, làng nghề truyền thống và làng có nghề, hoạt động ở nhiều lĩnh vực như: chế biến nông - lâm - thủy sản, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ… với hơn 12.000 cơ sở ngành nghề; tạo việc làm cho gần 24.000 lao động nông thôn.

Hoạt động của các làng nghề đã góp phần quan trọng vào việc tạo sinh kế và giữ gìn bản sắc văn hóa địa phương.

Tuy nhiên, trước sức ép của thị trường, không ít sản phẩm làng nghề dần bộc lộ hạn chế về mẫu mã, công năng và khả năng cạnh tranh so với các sản phẩm cùng loại làm từ vật liệu mới. Nếu không sáng tạo và đổi mới, nhiều làng nghề rất dễ rơi vào vòng xoáy mai một.

Để thích ứng và tồn tại, nhiều làng nghề tại Gia Lai đã có sự chuyển động rõ rệt. Trong các xưởng mộc, lò gốm, cơ sở chế biến thực phẩm hay những vườn mai cảnh… ngày càng xuất hiện nhiều người thợ biết kết hợp kinh nghiệm truyền đời với tư duy đổi mới.

Bằng sự sáng tạo và tinh thần dấn thân, họ đã chủ động cải tiến công cụ sản xuất, ứng dụng máy móc, công nghệ, thay đổi cách tổ chức sản xuất và tiếp cận thị trường để nâng cao giá trị cho sản phẩm làng nghề.

lang-nghe-van-hoa-1.jpg
Ông Nguyễn Đăng Hiểu (thứ 3 từ phải sang) giới thiệu sản phẩm bánh cốm do cơ sở của mình sản xuất. Ảnh: Thế Vương

Tại thôn Chánh Liêm (xã Xuân An), nghề làm bánh cốm truyền thống từng đứng bên bờ mai một khi cả làng chỉ còn vỏn vẹn 4 hộ lặng lẽ bám nghề. Là một trong số ít người còn “giữ lửa” nghề, ông Nguyễn Đăng Hiểu thấu hiểu hơn ai hết những khó khăn, thách thức đang đè nặng lên nghề làm cốm. Nhưng thay vì bỏ nghề như nhiều người dân địa phương, ông kiên trì tìm hướng đi mới.

Từ năm 2014, cùng con trai, ông Hiểu từng bước nghiên cứu, chế tạo và đưa vào sử dụng nhiều loại máy bán tự động như máy trộn, máy ép, cắt và đóng gói bánh.

Nhờ đó, năng suất tăng gấp 10 lần, thời gian bảo quản bánh được kéo dài từ 2 ngày lên đến 90 ngày, tạo điều kiện để sản phẩm vươn tới những thị trường xa.

Ông Hiểu cho biết: “Thời gian đầu chế tạo máy gặp rất nhiều khó khăn, vừa phức tạp, vừa tốn công sức nhưng cha con tôi kiên trì khắc phục từng bước. Đến nay, máy móc đã vận hành ổn định, đáp ứng tốt yêu cầu sản xuất. Mỗi ngày, cơ sở sản xuất trung bình 2 tấn cốm, lợi nhuận đạt hơn 500 triệu đồng/năm”.

Một tín hiệu đáng mừng là tinh thần đổi mới sáng tạo không chỉ được nhen lên ở những làng nghề đang đứng trước nguy cơ mai một mà còn lan tỏa mạnh mẽ ngay tại các làng nghề phát triển ổn định.

Như tại thủ phủ mai vàng An Nhơn, từ trăn trở trước công đoạn chẻ tre làm cọc uốn mai vốn phải thực hiện thủ công, tốn nhiều thời gian và nhân lực, ông Bùi Văn Sanh (ở khu phố Nhơn Thuận, phường An Nhơn Bắc) đã kiên trì nghiên cứu, cải tiến thành công hệ thống máy chẻ và chuốt cọc uốn mai cảnh.

lang-nghe-van-hoa-2.jpg
Ông Bùi Văn Sanh (bên trái) kiểm tra cọc tre trước khi đưa vào máy chuốt. Ảnh: Việt Hùng

Ông Sanh cho hay: “Trước kia, tôi cũng là một người trồng mai nên hiểu được sự vất vả của công đoạn này. Vì thế, tôi bắt đầu nảy ra ý tưởng tự chế, cải tiến và hoàn thiện hệ thống máy móc gồm 4 công đoạn khép kín, từ chẻ tre, chuốt nan đến chà bóng, xử lý mùn tre.

Nhờ đó, chỉ với 2 lao động mỗi giờ có thể sản xuất khoảng 1.500 cọc, bảo đảm chất lượng đồng đều, đáp ứng hiệu quả nhu cầu vật tư cho người trồng mai trên địa bàn”.

Có thể thấy, điểm gặp nhau rõ nét nhất của những “nghệ nhân sáng tạo” chính là tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám thay đổi để thích ứng với thị trường.

Những đổi mới ấy không nhằm tạo ra sự khác biệt hình thức mà tập trung giải quyết những nút thắt cốt lõi của làng nghề như năng suất thấp, chất lượng thiếu đồng đều hay đầu ra bấp bênh...

Đáng chú ý, đa số sáng tạo này đều không dừng lại ở kết quả ban đầu mà được các nghệ nhân liên tục điều chỉnh, hoàn thiện để phù hợp với yêu cầu mới, từng bước đưa các sáng kiến vào sản xuất ổn định.

Chính quá trình bền bỉ ấy đã tạo hiệu ứng lan tỏa, góp phần giúp sản phẩm làng nghề nâng cao giá trị và đứng vững hơn trong đời sống đương đại.

Có thể bạn quan tâm

Khi phụ nữ trở thành hạt nhân xây dựng buôn làng

Khi phụ nữ trở thành hạt nhân xây dựng buôn làng

(GLO)- Những “Làng phụ nữ kiểu mẫu” đang trở thành điểm sáng trong xây dựng nông thôn mới ở nhiều buôn, làng vùng sâu ở Gia Lai. Không chỉ tiên phong giữ gìn vệ sinh môi trường, xây dựng cảnh quan xanh - sạch - đẹp, nhiều chị em còn tiên phong phát triển kinh tế, gìn giữ bản sắc văn hóa.

Công ty Điện lực Gia Lai thực hiện khung giờ cao điểm

Công ty Điện lực Gia Lai thực hiện khung giờ cao điểm

(GLO)- Thực hiện Quyết định số 963/QĐ-BCT của Bộ Công Thương quy định khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường của hệ thống điện quốc gia, Công ty Điện lực Gia Lai triển khai bảo đảm áp dụng đồng bộ, chính xác và thuận lợi đối với khách hàng sử dụng điện trên địa bàn tỉnh.

Gia Lai: Rợp cánh cò nhạn tại Cồn Chim

Cồn Chim rợp cánh cò nhạn

(GLO)- Những ngày gần đây, nhiều đàn cò nhạn xuất hiện tại Khu sinh thái Cồn Chim (xã Tuy Phước Đông, phường Quy Nhơn Đông, tỉnh Gia Lai) tạo nên khung cảnh sinh động. Sự trở lại của loài chim này được xem là tín hiệu tích cực cho hệ sinh thái đầm Thị Nại.

Sáng mãi nghị lực nữ cựu chiến binh

Sáng mãi nghị lực nữ cựu chiến binh

(GLO)- Rời quân ngũ, từ hai bàn tay trắng, nhiều nữ cựu chiến binh tiếp tục phát huy bản lĩnh, bền bỉ gây dựng cơ nghiệp, vượt qua biến cố, lan tỏa nghĩa tình bằng những việc làm thiết thực, giữ vững phẩm chất người lính Cụ Hồ giữa đời thường.

Các mô hình sản xuất hiệu quả được triển khai tại xã An Lão đã tạo ra động lực giúp đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên thoát nghèo bền vững.

An Lão ưu tiên nguồn lực cho công tác giảm nghèo

(GLO)- Những năm qua, xã An Lão (tỉnh Gia Lai) đã tập trung triển khai nhiều giải pháp giảm nghèo bền vững, phát huy hiệu quả các mô hình sản xuất và nguồn vốn tín dụng chính sách, giúp người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số từng bước vươn lên, ổn định cuộc sống.

null