Khai thác thế mạnh của rừng đặc dụng, phòng hộ có tiềm năng

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Đối với các khu rừng đặc dụng, phòng hộ có tiềm năng, cần thúc đẩy nghiên cứu, thực hiện các giải pháp khai thác tiềm năng của rừng, phát triển lâm đặc sản, dược liệu dưới tán rừng; phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ, tạo các nguồn thu đầu tư trở lại bảo vệ rừng.

 

Cán bộ kiểm lâm đồng hành cùng người dân hướng dẫn chăm sóc, thu hoạch, bảo vệ tài nguyên rừng. Ảnh: Đăng Thy.
Cán bộ kiểm lâm đồng hành cùng người dân hướng dẫn chăm sóc, thu hoạch, bảo vệ tài nguyên rừng. Ảnh: Đăng Thy.


Đó là một trong những đề nghị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NNPTNT) nhằm thực hiện hiệu quả việc quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ ở nước ta.

Theo thống kê, hiện nay, nước ta có 2,15 triệu ha rừng đặc dụng, chiếm gần 15%; rừng phòng hộ 4,6 triệu ha chiếm khoảng 31,8%. Đến nay cả nước đã thành lập 395 Ban Quản lý rừng (164 ban quản lý rừng đặc dụng; 231 ban quản lý rừng phòng hộ), quản lý khoảng 46,8% diện tích đất lâm nghiệp, đại diện cho hầu hết các hệ sinh thái quan trọng trên cạn, trên biển, đất ngập nước, trong đó phần lớn là rừng nguyên sinh. Vì vậy, hệ sinh thái rừng đặc dụng, phòng hộ đóng vai trò hết sức quan trọng trong phòng hộ đầu nguồn, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu.

Thời gian qua, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách đầu tư cho công tác bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, phòng hộ. Đồng thời, với sự chỉ đạo trực tiếp, quyết liệt của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương và sự cố gắng nỗ lực khắc phục khó khăn của các chủ rừng nên công tác quản lý rừng nói chung, rừng phòng hộ, đặc dụng nói riêng đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Có thể kể đến như nâng cao độ che phủ rừng, nâng cao chất lượng rừng, góp phần tạo sinh kế, nâng cao đời sống người dân miền núi, vùng sâu, vùng xa, nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.

Dù vậy, theo đánh giá của Bộ NNPTNT, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn, vướng mắc. Trong đó, xu hướng suy thoái đa dạng sinh học do nạn phá rừng, khai thác gỗ bất hợp pháp vẫn còn xảy ra; kinh tế phát triển, dân số tăng cao tạo áp lực về đất ở, đất sản xuất không tránh khỏi tình trạng xâm lấn đất rừng. Cơ sở hạ tầng, trang thiết bị đầu tư cho các ban quản lý rừng còn thiếu và yếu; chính sách đầu tư bảo vệ rừng đối với hệ thống rừng đặc dụng, phòng hộ còn một số bất cập chưa tương xứng với mục tiêu và nhiệm vụ…

Nhằm quản lý hiệu quả hệ thống rừng đặc dụng, phòng hộ trong thời gian tới, Bộ NNPTNT đề nghị cần thực hiện chủ trương xã hội hóa để thu hút, huy động hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực bảo vệ, phát triển rừng, sử dụng rừng để phát triển kinh tế bền vững. Tuy nhiên, việc thu hút này cần theo đúng quy định của pháp luật, không làm tổn hại sinh thái rừng; bảo vệ môi trường sinh thái; không đánh đổi hiệu quả kinh tế với an ninh môi trường và thực hiện nghiêm việc kiểm soát chuyển mục đích sử dụng rừng theo quy định của Luật Lâm nghiệp.

Cùng với đó, củng cố hệ thống rừng đặc dụng quốc gia hiện có theo hướng nâng cao chất lượng rừng và giá trị đa dạng sinh học. Tập trung các dự án đầu tư phát triển, bảo vệ và phục hồi hệ thống rừng phòng hộ đầu nguồn ở khu vực miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và toàn bộ diện tích rừng phòng hộ chắn sóng, chắn cát ven biển. Đối với những khu vực rừng phòng hộ ngập mặn có nguồn lợi thủy sản là sinh kế của cư dân trong vùng, cần xác định cụ thể các khu vực, nơi cộng đồng cư dân địa phương được phép khai thác, nuôi trồng thuỷ sản để kết hợp phát triển kinh tế.

Đặc biệt, cần thực hiện việc quản lý, sử dụng môi trường rừng đặc dụng, phòng hộ theo tiêu chí quản lý rừng bền vững của Việt Nam và quốc tế. Các ban quản lý khu rừng đặc dụng, phòng hộ từng bước tự chủ được về tài chính, thông qua tăng nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng và phát triển du lịch sinh thái. Phấn đấu đến năm 2025, có khoảng 50% các khu rừng đặc dụng, phòng hộ tổ chức hoạt động du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí, hàng năm thu hút tối thiểu từ 15-20% lượng khách du lịch tại Việt Nam.

Đối với các khu rừng đặc dụng, phòng hộ có tiềm năng, cần thúc đẩy nghiên cứu, thực hiện các giải pháp khai thác tiềm năng của rừng, phát triển lâm đặc sản, dược liệu dưới tán rừng; phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ, tạo các nguồn thu đầu tư trở lại bảo vệ rừng.

Bên cạnh đó, các địa phương cần ưu tiên bố trí nguồn nhân lực bảo vệ rừng chuyên trách cho các ban quản lý rừng để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, phòng hộ. Nhà nước cần ưu tiên đầu tư nâng cao năng lực, xây dựng cơ sở hạ tầng, áp dụng công nghệ tiên tiến trong công tác quản lý, giám sát đa dạng sinh học đối với các ban quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ.          

Theo Băng Thanh (daidoanket)

Có thể bạn quan tâm

gia-lai-xu-ly-dut-diem-ton-tai-chong-khai-thac-IUU

Gia Lai: Xử lý dứt điểm tồn tại trong chống khai thác IUU

(GLO)- Phó Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai Dương Mah Tiệp vừa ký ban hành Văn bản số 12699/UBND-NNMT yêu cầu các sở, ngành, lực lượng và địa phương liên quan khẩn trương khắc phục những tồn tại trong đợt cao điểm chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).

Liên kết sản xuất giúp cà phê Bờ Ngoong vươn xa

Liên kết sản xuất giúp cà phê Bờ Ngoong vươn xa

(GLO)- Từ những rẫy cà phê sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, người dân xã Bờ Ngoong (tỉnh Gia Lai) đang thay đổi cách làm bằng việc liên kết vào hợp tác xã (HTX), sản xuất theo quy trình bền vững, xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn và kết nối với doanh nghiệp để nâng tầm giá trị cà phê địa phương.

gia-lai-huong-dan-ngu-dan-khai-thac-hai-san-an-toan-hieu-qua

Gia Lai tăng cường hướng dẫn ngư dân khai thác hải sản an toàn, hiệu quả

(GLO)- Phó Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai Dương Mah Tiệp đã ký ban hành Văn bản 12566/UBND-NNMT gửi các sở, ngành, địa phương ven biển yêu cầu tăng cường hướng dẫn ngư dân khai thác hải sản phù hợp với ngư trường, nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo đảm an toàn cho người, tàu cá hoạt động trên biển.

Nâng cao giá trị ngành hàng chanh dây

Gia Lai đầu tư nâng cao giá trị ngành hàng chanh dây

(GLO)- Gia Lai có khoảng 5.500 ha chanh dây, sản lượng khoảng 210 nghìn tấn/năm. Từ quả chanh dây tươi, nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã đã tạo ra nhiều sản phẩm như dịch cấp đông, nước ép cô đặc, tinh cốt..., qua đó mở rộng đầu ra, nâng giá trị và giảm áp lực tiêu thụ trong mùa thu hoạch.

2,5 triệu ha rừng keo và nghịch lý bán nguyên liệu giá rẻ

2,5 triệu ha rừng keo và nghịch lý bán nguyên liệu giá rẻ

(GLO)- Việt Nam hiện có khoảng 2,5 triệu ha rừng keo, chiếm phần lớn diện tích rừng keo của thế giới. Thế nhưng khoảng 80% sản lượng gỗ keo vẫn được đưa vào sản xuất dăm gỗ và viên nén, đặt ra bài toán chuyển từ bán nguyên liệu giá trị thấp sang chế biến sâu, tạo giá trị cao hơn.

Học làm nông nghiệp qua những mùa cây

Học làm nông nghiệp qua những mùa cây

(GLO)- Từ mô hình sản xuất thực tế, Khoa Nông nghiệp và Môi trường đưa bài học vào kỹ năng nghề, lấy những vấn đề phát sinh làm chất liệu đổi mới đào tạo, gắn nhà trường với sản xuất và nhu cầu doanh nghiệp.

Chuyển đổi cây trồng hiệu quả, mở hướng giảm nghèo

Chuyển đổi cây trồng hiệu quả, mở hướng giảm nghèo

(GLO)- Từ những diện tích sản xuất kém hiệu quả, người dân xã Ia Tôr (tỉnh Gia Lai) đang từng bước thay đổi tư duy, lựa chọn cây trồng phù hợp để nâng cao hiệu quả sản xuất. Ðây cũng là hướng đi được xã thúc đẩy, đưa sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa, tạo sinh kế và giảm nghèo bền vững.

Ưu tiên nghiên cứu các giống cây trồng chủ lực

Ưu tiên nghiên cứu các giống cây trồng chủ lực

(GLO)- Bám sát định hướng sản xuất của tỉnh Gia Lai và các địa phương trong khu vực, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung Bộ (phường Quy Nhơn Nam) tập trung chọn tạo, chuyển giao các giống cây trồng có năng suất, chất lượng, khả năng thích ứng tốt.

null