Việt Nam đánh giá cao tốc độ tăng trưởng kinh tế của Campuchia

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Đại sứ Mai Phan Dũng đánh giá cao việc Campuchia là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực với mức tăng trưởng GDP liên tục trung bình gần 5% hằng năm kể từ năm 2017.

Đại sứ Mai Phan Dũng. (Ảnh: Nguyễn Văn Tuấn/TTXVN)

Đại sứ Mai Phan Dũng. (Ảnh: Nguyễn Văn Tuấn/TTXVN)

Phái đoàn thường trực Việt Nam tại Geneva ngày 26.3 đã tham dự phiên rà soát chính sách thương mại (TPR) lần thứ 3 của Campuchia tại trụ sở của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Trong bài phát biểu, Trưởng Phái đoàn Việt Nam tại Geneva, Đại sứ Mai Phan Dũng đánh giá cao việc Campuchia là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực với mức tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) liên tục trung bình gần 5% hằng năm kể từ năm 2017, nhờ vào mở cửa thương mại, du lịch, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và sản xuất hướng đến xuất khẩu. Campuchia cũng nỗ lực hướng tới mục tiêu thoát khỏi tình trạng là nước kém phát triển (LDC) vào năm 2029.

Ngoài ra, Campuchia đã tăng GDP bình quân đầu người lên 2.520 USD (từ mức gần 1.900 USD năm 2017) và giảm nghèo từ mức 3,9 triệu người (2014) xuống 2,8 triệu người (2020).

Trong giai đoạn rà soát từ năm 2017 đến nay, Campuchia đã xây dựng và ban hành nhiều luật và quy định về thương mại và đầu tư, chứng tỏ quyết tâm thực hiện cam kết hiện đại hóa và cải cách khuôn khổ pháp lý theo hướng phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, tạo điều kiện mở cửa thị trường hiệu quả, góp phần hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu.

Việt Nam cũng đánh giá cao sự tăng trưởng của Campuchia trong nền kinh tế số, với kim ngạch xuất khẩu các dịch vụ số tăng gần gấp 3 lần từ 146 triệu USD trong năm 2017 lên 426 triệu USD trong năm 2023, nhờ vào đầu tư, thiết lập khuôn khổ pháp lý mới cũng như các sáng kiến về thương mại điện tử và cấp phép.

Việt Nam ghi nhận những tiến bộ của Campuchia trong việc tự do hóa các rào cản thương mại, có mức độ mở cửa thương mại cao. Cụ thể, Campuchia nỗ lực giảm mức thuế quan MFN áp dụng trung bình từ 12,3% xuống 10,8% vào năm ngoái.

Trong khuôn khổ đa phương mà hai bên tham gia, mức thuế quan ưu đãi trung bình dao động từ 0,2% (Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN-ATIGA) đến 8,3% (Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực - RCEP). Campuchia cũng áp dụng cơ chế một cửa quốc gia (NSW), chương trình doanh nghiệp ưu tiên (AEO) và sử dụng tờ khai điện tử cũng như có các chính sách thuận lợi khác giúp đơn giản hóa thủ tục hải quan, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà xuất khẩu nước ngoài tiếp cận thị trường.

Về quan hệ song phương, Việt Nam và Campuchia có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, thiết lập quan hệ ngoại giao từ năm 1967.

Thông qua các khuôn khổ song phương như Hiệp định thương mại biên giới và Hiệp định thúc đẩy thương mại song phương, cũng như các khuôn khổ đa phương khác (ASEAN và RCEP), hai nước đã thiết lập khuôn khổ pháp lý để thúc đẩy và tạo điều kiện sử dụng tối ưu tiềm năng và cơ hội phát triển thương mại song phương. Việt Nam cũng tái khẳng định cam kết trong việc tăng cường hợp tác với Campuchia, nhằm mục đích tăng cường quan hệ thương mại và đầu tư song phương, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển khu vực tại ASEAN và trong khuôn khổ WTO.

Ở cấp độ đa phương, Việt Nam đánh giá cao việc Campuchia tích cực tham gia vào các hoạt động của WTO, là đầu mối trong nhóm các nước LDC về các chủ đề khác nhau, tham gia quá trình cải cách giải quyết tranh chấp và cải cách WTO, giải quyết các vấn đề quan trọng liên quan đến nông nghiệp và sở hữu trí tuệ, và đẩy nhanh việc sử dụng thương mại kỹ thuật số.

Cũng tại sự kiện, Phái đoàn Việt Nam tại Geneva đã phối hợp với Phái đoàn của các nước ASEAN có bài phát biểu chung đánh giá cao vai trò của Campuchia kể từ khi nước này gia nhập ASEAN vào năm 1999, góp phần trong việc hội nhập kinh tế khu vực sâu rộng hơn thông qua Cộng đồng Kinh tế ASEAN, tăng cường cam kết về tự do hóa thương mại, ổn định kinh tế và phát triển bền vững.

Kể từ khi gia nhập WTO năm 2004, thương mại hàng hóa của Campuchia đã tăng từ 25,4 tỷ USD (2017) lên 47,9 tỷ USD (2023).

Thương mại Campuchia-ASEAN đạt 15,7 tỷ USD năm 2024 (so với mức 14 tỷ USD năm 2023). ASEAN tái khẳng định cam kết tiếp tục cùng Campuchia tăng cường hội nhập kinh tế khu vực, duy trì hệ thống thương mại đa phương dựa trên luật lệ.

ASEAN cho rằng một môi trường thương mại quốc tế công bằng và bao trùm là cần thiết cho lợi ích chung của các nước đang phát triển và LDC, đảm bảo sự thịnh vượng chung trong khu vực.

(Theo Anh Hiển/TTXVN/Vietnam+)

* Link: https://www.vietnamplus.vn/viet-nam-danh-gia-cao-toc-do-tang-truong-kinh-te-cua-campuchia-post1023171.vnp

Có thể bạn quan tâm

Khởi công Dự án nhà ở xã hội chung cư Phú Tài Lộc

Khởi công Dự án nhà ở xã hội chung cư Phú Tài Lộc

(GLO)- Sáng 8-1, tại số 1353 đường Hùng Vương (phường Quy Nhơn Bắc, tỉnh Gia Lai), Công ty CP Xây lắp Công nghiệp Bình Định và Công ty TNHH MTV Phú Tài Lộc (công ty con 100% vốn chủ sở hữu Công ty CP Xây lắp Công nghiệp Bình Định) đã tổ chức lễ khởi công Dự án nhà ở xã hội Chung cư Phú Tài Lộc.

Gia Lai ra quân tổng điều tra kinh tế năm 2026

Gia Lai ra quân tổng điều tra kinh tế năm 2026

(GLO)- Sáng 7-1, cùng với cả nước, tỉnh Gia Lai tổ chức lễ ra quân tổng điều tra kinh tế năm 2026. Ban Chỉ đạo tổng điều tra kinh tế tỉnh đã chọn phường Diên Hồng làm điểm tổ chức lễ ra quân với quyết tâm triển khai đồng bộ, hiệu quả cuộc tổng điều tra trên địa bàn tỉnh.

Công tác quản lý, đầu tư và phát triển khu công nghiệp: Nơi bứt phá, chỗ còn lực cản

Công tác quản lý, đầu tư và phát triển khu công nghiệp: Nơi bứt phá, chỗ còn lực cản

(GLO)- Năm 2025 là năm thứ 2 UBND tỉnh Gia Lai giao chỉ tiêu về quản lý, đầu tư và phát triển khu công nghiệp cho các chủ đầu tư hạ tầng. Kết quả triển khai cho thấy nhiều tín hiệu tích cực, song vẫn còn không ít chỉ tiêu chưa đạt như kỳ vọng, phản ánh rõ sự phân hóa giữa các khu công nghiệp.

Giá vàng ngày ngày 30-12 lao dốc.

Giá vàng lao dốc

(GLO)- Ngày 30-12, thị trường vàng trong nước lao dốc, mất 3,8 triệu đồng, trở về mốc 154,2 triệu đồng/lượng. Đây là mức giảm mạnh nhất ghi nhận trong tháng 12.

null