Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài vừa được Bộ Chính trị ban hành đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng, hướng tới kiến tạo năng lực cạnh tranh quốc gia và hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Từ yêu cầu đổi mới mô hình phát triển đến bước chuyển trong tư duy của Đảng
40 năm thực hiện đường lối đổi mới và mở cửa, thu hút đầu tư nước ngoài là một trong những quyết sách chiến lược quan trọng của Đảng. Từ một nền kinh tế thiếu vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản trị, Việt Nam đã trở thành điểm đến hấp dẫn của nhiều tập đoàn đa quốc gia, tham gia ngày càng sâu vào chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp quan trọng vào tăng trưởng GDP, xuất khẩu, thu ngân sách, tạo việc làm và thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Theo số liệu thống kê của Bộ Tài chính, đến nay Việt Nam đã thu hút gần 550 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đăng ký với hơn 46.000 dự án còn hiệu lực. Kết quả này khẳng định chủ trương thu hút đầu tư nước ngoài của Đảng là đúng đắn và phù hợp với yêu cầu phát triển của từng giai đoạn.
Tại Gia Lai, năm 2025 ghi dấu bước đột phá ấn tượng trong thu hút FDI với 16 dự án, tổng vốn đăng ký đạt hơn 35.683 tỷ đồng, qua đó lọt vào top 5 cả nước về thu hút FDI. Tỉnh tập trung vào 5 trụ cột chính: công nghiệp (năng lượng tái tạo), nông nghiệp công nghệ cao, du lịch, đô thị sinh thái và dịch vụ.
6 tháng đầu năm 2026, Gia Lai đã thu hút 165 dự án đầu tư mới với tổng vốn đăng ký gần gần 165.000 tỷ đồng, đạt 97,06% kế hoạch UBND tỉnh giao năm 2026 là 170 dự án. So với cùng kỳ năm 2025, số lượng dự án tăng 142,65%, trong khi tổng vốn đăng ký tăng tới 221,19%.
Trong tổng số dự án thu hút mới, có 163 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn hơn 164.433 tỷ đồng và 2 dự án FDI với tổng vốn gần 316 tỷ đồng (tương đương khoảng 12,1 triệu USD).
Tuy nhiên, bên cạnh thành tựu, phải nhìn thẳng vào những hạn chế cần khắc phục. Chất lượng và sức lan tỏa của một bộ phận dự án còn thấp; liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước chưa chặt chẽ; chuyển giao công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ và đầu tư gián tiếp chưa tương xứng với tiềm năng. Một số địa phương vẫn nặng tư duy thu hút theo số lượng dự án và quy mô vốn, chưa chú trọng đủ các tiêu chí về đổi mới sáng tạo, giá trị gia tăng và bảo vệ môi trường.
Những hạn chế này càng rõ nét trong bối cảnh kinh tế thế giới thay đổi sâu sắc. Cách mạng công nghiệp 4.0, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu đòi hỏi các quốc gia phải cạnh tranh bằng chất lượng thể chế, nguồn nhân lực và năng lực đổi mới sáng tạo thay vì chỉ dựa vào lao động giá rẻ hay ưu đãi đầu tư.
Đại hội XIV của Đảng đã xác định rõ yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trên nền tảng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng. Trong bối cảnh đó, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cần được phát triển theo hướng mới, không chỉ thu hút vốn mà phải nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng lan tỏa đối với toàn bộ nền kinh tế.
Từ thực tiễn, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8-6-2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Nghị quyết số 10-NQ/TW được ban hành trên cơ sở tổng kết gần 40 năm thực hiện chủ trương mở cửa và thu hút đầu tư nước ngoài của Đảng.
Điểm cốt lõi của Nghị quyết là xác lập bước chuyển chiến lược trong tư duy: Không còn thuần túy mở cửa đón nhận dòng vốn mà đã chủ động lựa chọn và sử dụng nguồn lực quốc tế để tạo dựng năng lực cạnh tranh quốc gia; làm thế nào sử dụng hiệu quả nguồn lực nước ngoài để nâng cao nội lực, năng lực công nghệ, sức cạnh tranh và tự chủ của nền kinh tế.
6 quan điểm thể hiện bước chuyển căn bản
Điểm nổi bật của Nghị quyết số 10-NQ/TW nằm ở sự đổi mới tư duy phát triển. 6 quan điểm chỉ đạo thể hiện rõ bước chuyển căn bản:
Thứ nhất, chuyển từ tư duy “thu hút đầu tư nước ngoài” sang “phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”. Khu vực này được coi là bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân, phát triển lâu dài, bình đẳng và gắn bó hữu cơ với kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân.
Thứ hai, chuyển mạnh từ thu hút vốn sang phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia. Lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, giá trị gia tăng và liên kết với doanh nghiệp trong nước làm tiêu chí chủ yếu thay vì chỉ chạy theo số lượng dự án và quy mô vốn.
Thứ ba, xây dựng hệ sinh thái đầu tư đồng bộ, gắn kết đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế và các khu kinh tế, khu công nghệ cao.
Thứ tư, chuyển từ quản lý hành chính sang tư duy kiến tạo phát triển, với trọng tâm là hoàn thiện thể chế minh bạch, ổn định, bảo hộ quyền lợi nhà đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Thứ năm, tăng cường điều phối quốc gia, khắc phục tình trạng cạnh tranh cục bộ giữa các địa phương, hướng nguồn lực đầu tư theo chiến lược chung và lợi thế liên kết vùng.
Thứ sáu, nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tham gia của cả hệ thống chính trị trong việc huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực quốc tế. Những chuyển đổi này thể hiện tư duy phát triển mới: từ chiều rộng sang chiều sâu, từ khai thác lợi thế sẵn có sang chủ động tạo dựng lợi thế cạnh tranh, từ phát triển riêng lẻ sang xây dựng hệ sinh thái gắn kết với nội lực quốc gia.
Hiện thực hóa tư duy mới, góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ
Nghị quyết số 10-NQ/TW đề ra mục tiêu tổng quát: Đưa Việt Nam trở thành điểm đến cạnh tranh thu hút vốn nước ngoài trung và dài hạn chất lượng cao, góp phần nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, nâng cao vị thế và uy tín quốc gia.
Đến năm 2030, phấn đấu thu hút 200-300 tỷ USD vốn đăng ký và 150-200 tỷ USD vốn thực hiện; 75% vốn đến từ các nền kinh tế phát triển; nâng tỷ lệ nội địa hóa lên 45-50%; có khoảng 10.000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng của FDI; phát triển mạnh thị trường vốn và các khu công nghiệp sinh thái.
Đến năm 2045, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư xã hội, đóng góp khoảng 30% GDP, góp phần đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Để đạt được các mục tiêu này, Nghị quyết đưa ra 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm: Đổi mới tư duy và hoàn thiện thể chế; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; nâng cấp hạ tầng chiến lược; đổi mới định hướng thu hút đầu tư; thúc đẩy liên kết, chuyển giao công nghệ và kinh tế xanh - số; nâng cao hiệu quả xúc tiến và quản lý nhà nước; tăng cường lãnh đạo của Đảng và vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc.
* * *
Nghị quyết số 10-NQ/TW là bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Từ mục tiêu thu hút nguồn lực, Đảng chuyển sang tư duy phát huy hiệu quả nguồn lực đó để cùng nội lực quốc gia kiến tạo năng lực phát triển mới.
Triển khai thành công Nghị quyết sẽ góp phần quan trọng xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, nâng cao vị thế Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu, thực hiện khát vọng trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.