Trong bối cảnh Việt Nam từng bước hình thành thị trường carbon và thực hiện cam kết phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050, rừng đang được xác định là một trong những trụ cột quan trọng nhờ khả năng hấp thụ và lưu giữ CO₂ lâu dài.
Từ “lá phổi xanh” đến nguồn thu hàng chục triệu USD
Gia Lai là một trong những địa phương có diện tích rừng lớn của khu vực Tây Nguyên. Toàn tỉnh có diện tích tự nhiên hơn 2,15 triệu ha, trong đó diện tích đất có rừng đạt gần 988.000 ha, bao gồm hơn 692.000 ha rừng tự nhiên và trên 295.000 ha rừng trồng.
Quy mô rừng lớn, phân bố trên nhiều dạng địa hình và sinh thái đã tạo cho Gia Lai lợi thế đặc biệt trong việc hấp thụ và lưu giữ carbon - yếu tố cốt lõi để tham gia thị trường tín chỉ carbon.
Không chỉ giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường sinh thái, điều hòa khí hậu và phòng - chống thiên tai, hệ sinh thái rừng của tỉnh ngày càng được nhìn nhận như một “tài sản xanh” có thể chuyển hóa thành giá trị kinh tế.
Theo ông Trương Thanh Hà - Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai, bình quân mỗi ha rừng tại khu vực Tây Nguyên có thể hấp thụ khoảng 4-6 tấn CO₂ mỗi năm, tùy theo loại hình và trạng thái rừng.
Với mức trung bình khoảng 5 tấn CO₂/ha/năm, tổng diện tích rừng của Gia Lai có khả năng hấp thụ xấp xỉ 4,9 triệu tấn CO₂ mỗi năm.
“Nếu lượng CO₂ này được quy đổi thành tín chỉ carbon và giao dịch với mức giá tham khảo khoảng 10 USD/tấn thì giá trị kinh tế mang lại là rất lớn, có thể đạt hàng chục triệu USD mỗi năm. Đây là tiềm năng thực sự, song cần được khai thác thận trọng, bền vững và đúng quy định” - ông Hà nhấn mạnh.
Nhận diện rõ tiềm năng này, thời gian qua, Gia Lai đã tích cực tham gia các chương trình, sáng kiến quốc gia và quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính từ rừng. Đáng chú ý là việc tham gia Thỏa thuận mua bán giảm phát thải (ERPA) cho khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ.
Để triển khai ERPA trên địa bàn, Sở Nông nghiệp và Môi trường Gia Lai đã phối hợp với các cơ quan chuyên môn, chuyên gia tư vấn và Viện Điều tra Quy hoạch rừng tiến hành khảo sát, xác minh, thẩm định kết quả giảm phát thải tại một số địa phương và chủ rừng; đồng thời tổ chức các hội nghị, hội thảo tuyên truyền nhằm bảo đảm sự công khai, minh bạch và tạo đồng thuận từ chính quyền cơ sở, các chủ rừng và cộng đồng dân cư.
Theo đánh giá của ngành chức năng, tham gia thị trường carbon không chỉ là câu chuyện bán tín chỉ, mà còn là quá trình chuẩn hóa công tác quản lý rừng, giám sát phát thải và minh bạch hóa dữ liệu.
Đây được xem là bước đi quan trọng để Gia Lai từng bước hội nhập sâu hơn vào thị trường carbon trong nước và quốc tế; đồng thời, nâng cao giá trị của ngành lâm nghiệp trong bối cảnh kinh tế xanh đang trở thành xu hướng toàn cầu.
Biến “tài sản xanh” thành sinh kế bền vững
Thực tiễn cho thấy, phát triển tín chỉ carbon rừng không chỉ dừng lại ở giá trị kinh tế, mà còn mở ra cơ hội tạo nguồn lực bền vững cho công tác bảo tồn và cải thiện sinh kế người dân sống gần rừng.
Vườn quốc gia Kon Ka Kinh hiện đang quản lý, bảo vệ hơn 42.000 ha rừng, chủ yếu là rừng tự nhiên với hệ sinh thái phong phú và tính đa dạng sinh học cao, được đánh giá là khu vực có nhiều tiềm năng tham gia thị trường carbon.
Ông Ngô Văn Thắng - Giám đốc Vườn quốc gia Kon Ka Kinh - cho biết: Việc bảo vệ và phát triển rừng gắn với cơ chế tài chính từ tín chỉ carbon sẽ giúp tăng nguồn lực cho công tác bảo tồn, đồng thời tạo điều kiện cải thiện sinh kế cho người dân sống gần rừng thông qua giao khoán bảo vệ rừng, hỗ trợ sinh kế bền vững và phát triển du lịch sinh thái.
Khi người dân có thêm nguồn thu hợp pháp từ rừng, áp lực khai thác trái phép sẽ giảm, qua đó hình thành “vòng tròn tích cực” giữa bảo tồn và phát triển.
Không chỉ ở rừng đặc dụng, tiềm năng phát triển tín chỉ carbon còn được mở rộng sang rừng trồng và rừng sản xuất. Trước đó, Công ty cổ phần Tập đoàn Ecotree (TP. Hồ Chí Minh) đã tổ chức khảo sát, đánh giá tiềm năng hợp tác với các chủ rừng để thí điểm xây dựng đề án tín chỉ carbon rừng trồng trên địa bàn Gia Lai.
Dự kiến diện tích đầu tư khoảng 155.000 ha, bao gồm đất trống, rừng trồng và rừng nghèo tái sinh; sản lượng carbon theo tính toán đạt khoảng 15-30 tấn CO₂/ha/năm, phân kỳ theo từng giai đoạn.
Theo ông Lê Thanh Tùng - Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Ecotree, việc bán tín chỉ carbon rừng sẽ giúp gia tăng thu nhập từ kết quả giảm phát thải, đồng thời tạo động lực cho trồng rừng và phục hồi rừng theo hướng bền vững.
Đáng chú ý, doanh nghiệp cam kết đầu tư trồng rừng và không thu hồi lại vốn đã giải ngân cho người dân và các đơn vị chủ rừng; qua đó, tạo sự đồng hành lâu dài giữa doanh nghiệp, chủ rừng và cộng đồng địa phương.
Ở góc độ quản lý rừng phòng hộ, ông Nguyễn Văn Hùng - Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Mang Yang - cho rằng: Nếu có doanh nghiệp hỗ trợ chi phí trồng rừng, tài trợ khảo sát và thu mua tín chỉ carbon với mức giá khoảng 10 USD/tấn CO₂ thì chủ rừng và người dân sẽ có thêm nguồn thu ổn định, góp phần nâng cao đời sống và tạo thuận lợi cho công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Theo ông Trương Thanh Hà, kinh doanh tín chỉ CO₂ rừng không chỉ tạo ra nguồn thu mới cho ngân sách và các chủ rừng, mà còn trở thành động lực quan trọng thúc đẩy bảo vệ và phát triển rừng bền vững.
“Với tiềm năng lớn cùng sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, các ngành, thị trường carbon rừng được kỳ vọng sẽ trở thành một trụ cột mới của ngành lâm nghiệp Gia Lai, vừa bảo vệ ‘tài sản xanh’, vừa tạo giá trị kinh tế - xã hội bền vững” - ông Hà nhấn mạnh.