An Khê: Nuôi chồn hương sinh sản cho thu nhập mỗi năm gần 200 triệu đồng

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

(GLO)- Hơn 10 năm kiên trì theo đuổi nghề nuôi chồn hương, anh Trương Hồng Tân (tổ 5, phường An Phú, thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai) đã gặt hái thành công. Mỗi năm, anh thu về gần 200 triệu đồng từ việc bán con giống.

Đưa chúng tôi tham quan trại nuôi chồn hương, anh Tân cho biết: Trước kia, anh làm đủ thứ nghề, từ thợ hồ, thợ sơn đến nhổ mì, chặt mía thuê… nhưng “ráo mồ hôi là hết tiền”. Sau nhiều lần đắn đo suy nghĩ, cuối năm 2010, anh quyết định mua 10 con chồn hương về nuôi. “Do tôi chưa nắm vững kỹ thuật cũng chưa hiểu tập quán sống của loài chồn nên nuôi được vài tuần thì chúng chết sạch”-anh Tân nói.

 Từ 4 con chồn hương, đến nay, anh Trương Hồng Tân đã gầy dựng mô hình với gần 200 con chồn trưởng thành và 100 con chồn con. Ảnh: Ngọc Minh
Từ 4 con chồn hương, đến nay, anh Trương Hồng Tân đã gầy dựng mô hình với gần 200 con chồn trưởng thành và 100 con chồn con. Ảnh: Ngọc Minh


Không bỏ cuộc, anh Tân khăn gói đi tham quan, học hỏi cách chăn nuôi chồn hương ở một số trang trại tại tỉnh Bình Phước. Sau khi nắm bắt được kiến thức, kỹ thuật nuôi chồn, anh dốc hết vốn liếng mua 20 con chồn cái và 5 con chồn đực về nuôi. Tuy nhiên, chỉ sau mấy tháng, đàn chồn bị bệnh tiêu chảy, chết dần, chỉ còn 4 con.

Dù vợ khuyên bán hết chồn hương, kiếm việc khác làm, song anh Tân nhất quyết giữ lại mấy con để tiếp tục gầy đàn. Ban ngày, anh phụ vợ bán nước mía, tối về lên mạng, rồi mua sách báo về nghiên cứu phương pháp điều trị bệnh tiêu chảy cho loài chồn.

Anh Tân tâm sự: “Sau nhiều năm nuôi, tôi không những nắm bắt được đặc tính, cách ăn uống, sinh sản của loài chồn trong môi trường nuôi nhốt mà còn chế ra được loại thuốc đặc trị bệnh viêm ruột, gây tiêu chảy ở loài chồn”.

Theo anh Tân, phương thuốc này kết hợp một số thảo dược, vitamin tổng hợp và men tiêu hóa. Trước khi cho chồn ăn, anh hòa thuốc vào trong nước cho chúng uống để ổn định đường ruột. Thức ăn cho chồn gồm chuối và cá, mỗi ngày cho ăn 1 lần vào buổi chiều.

Bên cạnh đảm bảo cho đàn chồn ăn no, đầy đủ chất, anh Tân đặc biệt coi trọng vệ sinh môi trường; chuồng trại và máng nước được thau rửa 2 lần/ngày. Hàng tuần, anh phun thuốc khử trùng, sát khuẩn chuồng nuôi để hạn chế dịch bệnh. Định kỳ 6 tháng hoặc 1 năm, anh tiêm vắc xin cho đàn chồn. Nhờ đó mà đàn chồn ít bị bệnh, tăng sức đề kháng, sinh trưởng phát triển tốt. “Từ 4 con chồn, đến nay, trang trại của tôi đã có gần 300 con chồn sinh sản và chồn con”-anh Tân phấn khởi cho biết.

Mỗi năm gia đình anh Tân thu nhập gần 200 triệu đồng từ việc bán chồn hương giống
Mỗi năm, gia đình anh Tân có thu nhập gần 200 triệu đồng từ việc bán chồn hương giống. Ảnh: Ngọc Minh


Cũng theo anh Tân, chồn hương vốn là động vật hoang dã nên có sức đề kháng cao, ít bị bệnh. Chồn hương dễ nuôi, không mất nhiều thời gian chăm sóc, thức ăn đơn giản. Trong khi đó, nhu cầu tiêu thụ thịt chồn hương trên thị trường khá cao nên không lo đầu ra.

Nói về việc nuôi chồn sinh sản, anh Tân chia sẻ: Chồn hương sau 12 đến 14 tháng nuôi bắt đầu sinh sản. Nhưng để chồn đẻ tốt nhất là khoảng 20 tháng tuổi. Trong thời gian này, chồn sinh sản được bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng, nhất là canxi để hạn chế chồn mẹ sau khi sinh thiếu hụt chất sẽ ăn con non. Chồn mẹ mỗi năm đẻ 2-3 lứa, mỗi lứa từ 2 đến 4 con. Sau 60 ngày tuổi, chồn con được tách đàn và nuôi dưỡng bằng thức ăn đến khi cứng cáp thì xuất bán.

Hiện nay, anh Tân bán 5 triệu đồng/cặp chồn hương giống. Ngoài cung ứng cho các trại nuôi trong tỉnh, anh còn xuất đi các tỉnh Khánh Hòa, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Định... “Sau khi trừ chi phí, gia đình tôi thu nhập gần 200 triệu đồng/năm từ việc bán chồn giống. Sắp tới, tôi sẽ mở cơ sở chăn nuôi chồn hương tại tỉnh Kon Tum”-anh Tân cho hay.

Trao đổi với P.V, ông Bùi Quốc Khánh-Chủ tịch Hội Nông dân phường An Phú-thông tin: “Trại nuôi chồn hương của anh Trương Hồng Tân mang lại hiệu quả kinh tế cao. Anh Tân cũng hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng chồn hương cho một số hộ dân trên địa bàn. Thời gian tới, Hội sẽ tổ chức cho hội viên, nông dân có nhu cầu tham quan, học hỏi để nhân rộng mô hình chăn nuôi, giúp nâng cao thu nhập”.

 

 NGỌC MINH
 

Có thể bạn quan tâm

Rẫy chung ở Đak Đoa

Rẫy chung ở Đak Đoa

(GLO)- Giữa những đồi cà phê vào độ chín rộ ở xã Đak Đoa, có những khu rẫy không thuộc về riêng một hộ nào. Đó là rẫy chung - mảnh đất “không chia phần” của cộng đồng, nơi bà con cùng góp công vun trồng, chăm sóc qua từng mùa, lặng lẽ tích lũy thành nguồn lực chung để lo việc thôn, việc làng.

Người nông dân tại khu vực Tây Gia Lai đang chăm sóc vườn hoa lay ơn trong điều kiện thời tiết lạnh kéo dài trước Tết Nguyên đán 2026.

Người trồng hoa lay ơn Tây Gia Lai thấp thỏm vì thời tiết lạnh

(GLO)- Còn khoảng hơn một tháng nữa là đến Tết Nguyên đán, thời điểm này người trồng hoa lay ơn đang tập trung chăm sóc để hoa nở đúng dịp Tết. Song gần đây, thời tiết khu vực Tây Gia Lai xuất hiện lạnh kéo dài khiến người trồng hoa lay ơn không khỏi lo lắng về nguy cơ hoa nở “lệch vụ Tết”.

Điểm tựa cho nông dân dân tộc thiểu số

Điểm tựa cho nông dân dân tộc thiểu số

(GLO)- Các cấp Hội Nông dân trong tỉnh trở thành điểm tựa cho hội viên, đặc biệt là nông dân dân tộc thiểu số. Thông qua hỗ trợ vốn, giống, kỹ thuật, mô hình sản xuất, đời sống của bà con ngày càng ổn định, phát triển, góp phần đổi thay diện mạo khu vực nông thôn, miền núi.

Nhịp sống mới trên hạ lưu sông Ayun

Nhịp sống mới trên hạ lưu sông Ayun

(GLO)- Những ngày đầu năm 2026, bà con nông dân vùng hạ lưu sông Ayun (tỉnh Gia Lai) đang tất bật xuống đồng để kịp gieo sạ vụ Đông Xuân 2025-2026. Theo người dân địa phương, đây là thời điểm canh tác thuận lợi nhất do ít chịu ảnh hưởng của thiên tai, bão lũ so với các vụ khác.

Tái cấu trúc ngành thủy sản theo hướng hiện đại, bền vững

Gia Lai tái cấu trúc ngành thủy sản theo hướng hiện đại, bền vững

(GLO)- Năm 2026 được xác định là giai đoạn tăng tốc, phát triển ngành thủy sản theo hướng hiện đại, bền vững và hội nhập. Phóng viên Báo và phát thanh, truyền hình Gia Lai có cuộc phỏng vấn ông Cao Thanh Thương - Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường về những giải pháp trọng tâm của ngành.

null