Tiếp tục chương trình kỳ họp không thường lệ thứ nhất, sáng 7-8, các đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai thảo luận ở tổ về Dự án Luật Phát triển đô thị; Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường; Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ.
Rà soát cơ chế phối hợp liên tỉnh và cẩn trọng với rủi ro “hậu kiểm”
Liên quan đến dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai Lý Tiết Hạnh tham gia trực tiếp vào nội dung liên quan đến sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và Khoáng sản.
Từ tinh thần phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, đại biểu (ĐB) Hạnh bày tỏ băn khoăn tại khoản 3 Điều 6 và điểm c khoản 4 Điều 44 dự thảo Luật quy định bổ sung đối với giấy phép thăm dò khoáng sản nằm trên địa bàn từ 2 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên, thẩm quyền giải quyết thuộc Chủ tịch UBND cấp tỉnh nơi có diện tích khu vực thăm dò khoáng sản chiếm tỷ lệ lớn nhất. Nghĩa là lấy tỷ lệ diện tích trên giấy phép thăm dò khoáng sản làm tiêu chí giao thẩm quyền cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh.
Thứ 2, Chủ tịch UBND cấp tỉnh nơi giải quyết thủ tục hành chính có trách nhiệm lấy ý kiến của Chủ tịch UBND cấp tỉnh có diện tích địa giới hành chính thuộc khu vực thăm dò khoáng sản. Như vậy, về cách thức, phương thức qua thủ tục hành chính, Chủ tịch UBND tỉnh nơi có diện tích chiếm tỷ lệ lớn sẽ lấy ý kiến của các tỉnh có liên quan.
Theo ĐB Hạnh, thăm dò khoáng sản là hoạt động rất phức tạp. Trong quá trình thực hiện các thủ tục về một hành trình, một hoạt động thăm dò khoáng sản liên quan đến rất nhiều nội dung, qua nhiều công đoạn: từ cấp phép, quá trình thăm dò, cho đến việc công nhận kết quả thăm dò thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp tỉnh là rất lớn.
ĐB Hạnh cho rằng cơ chế phối hợp mà Chủ tịch UBND cấp tỉnh nơi giải quyết thủ tục hành chính chỉ có một thủ tục là “lấy ý kiến” của Chủ tịch UBND cấp tỉnh lân cận thì e rằng trong quá trình tổ chức thực hiện sẽ phát sinh nhiều vấn đề thực tiễn khó giải quyết. Vì vậy, đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát, làm rõ các nội dung liên quan đến quy định trong trường hợp này.
Đồng thời, đề nghị nghiên cứu cơ chế liên vùng trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tình huống giấy phép thăm dò khoáng sản nằm trên địa bàn từ 2 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên.
Trong khi đó, ĐB Lê Hoàng Anh đề nghị làm rõ khái niệm “cùng một lĩnh vực”; tránh tình trạng “một luật sửa nhiều luật” không cùng bản chất, sửa chéo ngành gây ùn tắc và quá tải cho bộ máy thực thi cấp cơ sở.
Đồng thời, đại biểu cũng cảnh báo rủi ro khi chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, cần hết sức thận trọng.
Đại biểu dẫn chứng quy định cho phép tự công bố lưu hành giống cây trồng (khoản 1 Điều 17) có thể dẫn đến nguy cơ tự phát lưu hành các giống ngoại lai, sinh vật gây hại cho sản xuất và môi trường (tương tự bài học ốc bươu vàng).
Còn ĐB Trường Trung Tuyến bày tỏ sự quan tâm đối với Điều 3 - Sửa đổi Luật Chăn nuôi. Cụ thể, về quản lý nguồn gen vật nuôi quý hiếm, đại biểu thống nhất chủ trương phân cấp thẩm quyền cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh nhằm cắt giảm thủ tục hành chính. Tuy nhiên, đối với các nguồn gen giống quý hiếm hoặc thuộc danh mục cấm xuất khẩu, đại biểu đề xuất bắt buộc phải có ý kiến thẩm định của cơ quan chuyên môn thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đồng thời lập cơ chế tham vấn cộng đồng đang trực tiếp bảo tồn.
Về kiểm soát thức ăn chăn nuôi, ĐB Tuyến tán thành chuyển mạnh sang cơ chế hậu kiểm, nhưng cảnh báo nguy cơ tiềm ẩn tại khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa do người dân thiếu công cụ kiểm chứng.
Do đó, đề nghị duy trì thẩm định trước đối với các sản phẩm chứa phụ gia mới, vi sinh vật mới; đồng thời quy định bắt buộc áp dụng mã QR phục vụ truy xuất nguồn gốc.
Về thẩm quyền đối với dự án liên tỉnh, đại biểu đề nghị luật hóa trực tiếp các tiêu chí xác định thẩm quyền (không đẩy xuống văn bản dưới luật). Giao thẩm quyền chủ trì cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh nơi đặt cơ sở chính hoặc nơi thực hiện phần lớn hoạt động sản xuất kinh doanh sau khi thống nhất với các địa phương liên quan.
Băng tần quốc phòng - kinh tế: Phải gắn với nghĩa vụ phủ sóng vùng sâu, biên giới
Tham gia thảo luận về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ, ĐB Trần Kim Kha bày tỏ quan tâm đến Đề án băng tần quốc phòng, an ninh kết hợp phát triển kinh tế chưa gắn nghĩa vụ ưu tiên phủ sóng biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được đề cập tại khoản 2 Điều 1 dự thảo Luật (sửa đổi điểm d khoản 4 Điều 18 Luật Tần số vô tuyến điện).
ĐB Kha nêu rõ bất cập ở chỗ bản chất của cơ chế cấp băng tần không qua đấu giá cho doanh nghiệp quốc phòng, an ninh là Nhà nước để đạt mục tiêu kép quốc phòng - kinh tế.
Tuy nhiên, nội dung đề án theo dự thảo không có bất kỳ yêu cầu nào về phạm vi phủ sóng tại các khu vực liên quan đến quốc phòng, an ninh và còn trắng sóng, lõm sóng - ở biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa - nơi doanh nghiệp thương mại không có động lực đầu tư. Đây cũng là kiến nghị cử tri lặp lại nhiều kỳ tiếp xúc tại các tỉnh miền núi, ven biển, trong đó có tỉnh Gia Lai.
Hệ quả là việc ưu đãi tài nguyên không được hoán đổi thành nghĩa vụ phục vụ đúng địa bàn chiến lược; khoảng cách số giữa vùng thuận lợi và vùng khó khăn chậm thu hẹp; giảm sức thuyết phục của chính cơ chế đặc thù khi giải trình trước cử tri.
Từ đó, ĐB Kha kiến nghị bổ sung vào đoạn 2 điểm d khoản 4 Điều 18: “Đề án phải bao gồm nhiệm vụ triển khai hạ tầng, phủ sóng tại khu vực biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn”.
Bên cạnh đó, qua nghiên cứu 4 văn bản Luật hợp nhất kèm hồ sơ, ĐB Kha nhận thấy một điểm bất cập là chưa có sự thống nhất trong việc gọi tên các bộ sau khi sáp nhập, hợp nhất.
Có nhiều điều trong văn bản hợp nhất khoản này giao cho “Bộ Thông tin và Truyền thông”, khoản kia lại giao cho “Bộ Khoa học và Công nghệ”; mặc dù thực chất là 1 bộ. Kết quả là có trường hợp trong cùng một luật, cùng một quy trình, chủ thể cấp phép là tên hai bộ khác nhau. Đại biểu đề nghị xem xét lại nguyên tắc thay đổi thống nhất tên bộ để người dân, doanh nghiệp dễ tiếp cận với Luật hơn.
Mở rộng cơ chế thí điểm đô thị nhưng tuyệt đối không đánh đổi an ninh lâu dài
Với dự thảo Luật Phát triển đô thị, ĐB Lê Hoàng Anh đề nghị rà soát kỹ tính hợp hiến (đặc biệt là Điều 69, 70, 113 Hiến pháp) đối với các quy định cho phép thí điểm khác luật và việc bỏ thủ tục quyết định chủ trương đầu tư đối với các dự án quan trọng quốc gia. Đề xuất bổ sung cơ chế hằng năm báo cáo Quốc hội danh mục các dự án này.
Về tài chính - ngân sách và phân cấp, ĐB Hoàng Anh đề nghị cấp có thẩm quyền cung cấp báo cáo đánh giá tác động ngân sách trung hạn (giai đoạn 2026-2030) khi áp dụng cơ chế bổ sung có mục tiêu tối đa 70% số tăng thu.
Về chính sách thu hút đầu tư và bảo vệ nhà đầu tư, cần bổ sung các tiêu chí định lượng (tỷ lệ nội địa hóa, nhân sự R&D người Việt) bên cạnh quy mô vốn khi xác định nhà đầu tư chiến lược. Cùng với đó là bổ sung nguyên tắc bồi hoàn chi phí hợp pháp cho nhà đầu tư tư nhân trong trường hợp dự án thí điểm bị tạm dừng do tác động tiêu cực ngoài dự báo. Thiết lập cơ chế điều phối liên thông các nguồn vốn khởi nghiệp sáng tạo và áp dụng nguyên tắc quản trị rủi ro (chấp nhận rủi ro trong ngưỡng cho phép mà không hồi truy trách nhiệm pháp lý).
Liên quan đến nguyên tắc phân quyền và cơ chế thí điểm, ĐB Nguyễn Văn Cảnh thống nhất cao với nguyên tắc phân quyền cho TP. Hồ Chí Minh, cho rằng việc thí điểm thành công các mô hình tiên tiến tại đây sẽ tạo tiền đề thực tiễn vững chắc để nhân rộng ra toàn quốc. Đại biểu đề xuất mở rộng quyền cho TP. Hồ Chí Minh chủ động áp dụng các mô hình quốc tế hiện đại và các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia (như Công ước Viên 1968 về Giao thông đường bộ).
Về hạ tầng giao thông và an toàn đường bộ, ĐB Cảnh đề nghị bổ sung quy định áp dụng các mô hình thiết kế tối ưu nhằm nâng cao tính an toàn cho hạ tầng hiện hữu. Dẫn chứng kinh nghiệm quốc tế, đại biểu đề xuất bố trí trạm dừng khẩn cấp ngắn: Bố trí các điểm dừng ngắn (khoảng cách 10-20 km hoặc 30-40 km) để người điều khiển phương tiện kịp thời xử lý công việc cá nhân, giảm thiểu rủi ro tai nạn do vừa lái xe vừa sử dụng điện thoại.
Đồng thời, thiết kế bề mặt nhám cho làn dừng khẩn cấp: Thay thế bề mặt láng mịn bằng bề mặt nhám để phát tín hiệu cảnh báo (rung) khi tài xế ngủ gật, đồng thời ngăn chặn tình trạng lấn làn, chạy tốc độ cao trên làn khẩn cấp.
Về phân loại rác thải tại nguồn, cho rằng quy định phân làm 3 loại rác hiện hành chưa phù hợp với điều kiện hạ tầng và thói quen thực tế, đại biểu đề nghị phân cấp cho TP. Hồ Chí Minh tự quyết định lộ trình và mô hình phù hợp, trước mắt thí điểm phân làm 2 loại (rác hữu cơ và rác khác).
Trong khi đó, ĐB Trần Minh Trọng nhấn mạnh nguyên tắc phát triển kinh tế phải gắn liền với củng cố quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền quốc gia. Mọi cơ chế đặc thù (về đầu tư, tài chính, đất đai, quy hoạch) tuyệt đối không vì lợi ích kinh tế ngắn hạn mà ảnh hưởng đến chiến lược an ninh lâu dài.
Đại biểu đề nghị quy định bắt buộc phải có ý kiến thống nhất của Bộ Quốc phòng trước khi quyết định chủ trương đầu tư hoặc phê duyệt quy hoạch tại các địa bàn chiến lược, vùng biên giới, hải đảo, vùng trời, khu vực phòng thủ và công trình quân sự.
Bên cạnh đó, cần bổ sung trách nhiệm của chính quyền đô thị đặc biệt trong việc xây dựng phương án phòng thủ dân sự, bảo vệ công trình trọng yếu. Đồng thời, đề nghị rà soát kỹ lưỡng với các luật chuyên ngành (Luật Quốc phòng, Luật Biên phòng Việt Nam, Luật Đất đai, Luật Đầu tư...) để tránh chồng chéo, xung đột pháp lý.