Hoàn thiện quy định về phòng, chống rửa tiền
Tham gia thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai Lý Tiết Hạnh đề nghị hoàn thiện các quy định về phòng, chống rửa tiền đối với tài sản mã hóa theo hướng tăng tính linh hoạt, phù hợp với sự phát triển nhanh của công nghệ.
Đại biểu (ĐB) Lý Tiết Hạnh cho rằng việc sửa đổi Luật Phòng, chống rửa tiền lần này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi đây là lĩnh vực mới, không chỉ tác động đến công tác quản lý của mỗi quốc gia mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người dân và sự phát triển của nền kinh tế trong tương lai.
Tại khoản 9 Điều 2 của dự thảo luật bổ sung Điều 33a sau Điều 33 quy định về các dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa, đang liệt kê 15 dấu hiệu đáng ngờ. Các dấu hiệu này được xây dựng trên cơ sở khuyến nghị của các tổ chức, song nhiều nội dung mang tính định tính hoặc phụ thuộc vào yếu tố kỹ thuật, công nghệ, trong khi lĩnh vực tài sản mã hóa luôn biến động rất nhanh.
Theo ĐB Hạnh, nếu quy định cứng các dấu hiệu này ngay trong luật sẽ khó bảo đảm tính ổn định của văn bản pháp luật, đồng thời không theo kịp sự thay đổi của công nghệ và các phương thức giao dịch mới.
Từ đó, đại biểu đề nghị bổ sung các quy định về biện pháp kỹ thuật nhằm phòng ngừa rủi ro, khắc phục những kẽ hở trong quá trình thực hiện giao dịch. Đồng thời, quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan liên quan, đặc biệt là Ngân hàng Nhà nước trong việc ban hành các yêu cầu, tiêu chuẩn và hướng dẫn kỹ thuật phục vụ công tác quản lý.
Bên cạnh đó, đại biểu kiến nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu quy định theo hướng luật chỉ quy định các nhóm dấu hiệu đáng ngờ, còn các dấu hiệu cụ thể giao Chính phủ hoặc Ngân hàng Nhà nước ban hành và cập nhật dưới dạng danh mục.
“Cách tiếp cận này sẽ tạo sự linh hoạt trong điều hành, giúp các quy định kịp thời thích ứng với sự phát triển nhanh của công nghệ và các phương thức giao dịch mới, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực tài sản mã hóa”, ĐB Lý Tiết Hạnh nhận định.
Bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng và ổn định kinh tế vĩ mô
Liên quan đến việc sửa đổi, bổ sung Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, ĐB Phạm Ngọc Lâm thống nhất với việc luật hóa một số quy định của Pháp lệnh Ngoại hối, đồng thời đề nghị làm rõ cơ sở chuyển thẩm quyền từ “Ngân hàng Nhà nước” sang “Thống đốc Ngân hàng Nhà nước” trong quyết định một số trường hợp ngoại lệ về sử dụng ngoại hối.
Theo đại biểu, cần làm rõ đây là chủ trương tăng cường trách nhiệm cá nhân hay xuất phát từ yêu cầu quản lý mới. Đại biểu cũng đồng tình với quy định giao Thống đốc Ngân hàng Nhà nước được quyết định một số trường hợp ngoại lệ trong sử dụng ngoại hối.
Theo đại biểu, có ý kiến băn khoăn việc trao thẩm quyền này có thể ảnh hưởng đến quyền của công dân theo quy định của Hiến pháp. Tuy nhiên, đại biểu cho rằng quy định không làm phát sinh việc hạn chế quyền mà theo hướng mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp, nên không trái với Hiến pháp.
Đối với quy định cho phép áp dụng một hoặc một số tỷ lệ an toàn khác nhằm thực hiện “yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội”, ĐB Lâm cho rằng phạm vi quy định còn quá rộng và tiềm ẩn nguy cơ nới lỏng các tiêu chuẩn an toàn trong hoạt động tín dụng.
Theo đại biểu, Ngân hàng Nhà nước vừa có nhiệm vụ ổn định giá trị đồng tiền, kiểm soát lạm phát, vừa tham gia thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Trong nhiều trường hợp, hai mục tiêu này có thể mâu thuẫn nhau.
Vì vậy, luật cần giới hạn rõ các trường hợp được phép điều chỉnh tỷ lệ an toàn, chẳng hạn chỉ áp dụng đối với các dự án quan trọng quốc gia hoặc công trình trọng điểm, thay vì quy định chung cho mọi yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Đại biểu cũng cho rằng việc quy định chặt chẽ ngay trong luật sẽ tạo cơ sở pháp lý giúp Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chủ động hơn trong điều hành chính sách tiền tệ, tránh sức ép phải nới lỏng tiêu chuẩn tín dụng để phục vụ mục tiêu tăng trưởng ngắn hạn.
Thực tiễn đã cho thấy việc mở rộng tín dụng quá mức có thể dẫn đến lạm phát và mất ổn định kinh tế vĩ mô sau một thời gian, vì vậy cần bảo đảm mục tiêu phát triển nhanh gắn với phát triển bền vững và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng.
Làm rõ trách nhiệm của ngân hàng khi quản lý tài sản bảo đảm trái phiếu
Tham gia góp ý vào Điều 3 của dự thảo luật sửa đổi Điều 114 Luật Các tổ chức tín dụng, ĐB Vũ Hồng Quân bày tỏ đồng tình với việc Ban soạn thảo bỏ cụm từ “riêng lẻ”.
Qua đó, cho phép ngân hàng thương mại làm đại lý quản lý tài sản bảo đảm không chỉ đối với trái phiếu doanh nghiệp phát hành riêng lẻ mà còn với trái phiếu chào bán ra công chúng. Theo đại biểu, đây là bước sửa đổi tích cực, góp phần phát triển thị trường vốn theo hướng bền vững.
Đại biểu phân tích, quy định mới sẽ giúp tận dụng năng lực quản lý tài sản, kinh nghiệm pháp lý và mạng lưới của hệ thống ngân hàng để hỗ trợ thị trường trái phiếu doanh nghiệp, tạo thêm kênh huy động vốn trung và dài hạn, giảm áp lực lên tín dụng ngân hàng. Đồng thời, việc luật hóa cũng tạo cơ sở pháp lý đầy đủ hơn cho hoạt động mà các ngân hàng đã tham gia trên thực tế.
Tuy nhiên, đại biểu cho rằng việc mở rộng quyền hoạt động cần đi kèm với khung trách nhiệm tương xứng. Theo đó, dự thảo cần bổ sung quy định về điều kiện thực hiện, quyền và nghĩa vụ của ngân hàng thương mại cũng như các bên liên quan; làm rõ nghĩa vụ đối với trái chủ, nguyên tắc tách biệt tài sản và cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích.
ĐB Quân cũng bày tỏ lo ngại nhà đầu tư có thể nhầm lẫn giữa ngân hàng làm đại lý quản lý tài sản bảo đảm với ngân hàng bảo lãnh thanh toán trái phiếu. Vì vậy, cần quy định rõ trong luật rằng hoạt động đại lý quản lý tài sản bảo đảm không phải là hình thức cấp tín dụng và không làm phát sinh nghĩa vụ thanh toán của ngân hàng, trừ trường hợp có cam kết bảo lãnh riêng.
Đồng thời, cần thiết lập cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích, quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý và ban hành đồng bộ các văn bản hướng dẫn cùng thời điểm luật có hiệu lực.
Đề nghị bỏ cụm từ “nhiều lần” trong quy định về hủy án không có căn cứ pháp luật
Góp ý dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và công tác thi hành án, Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai Siu Hương cho rằng, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 4 về chỉ tiêu, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân chưa phù hợp.
Theo ĐB Hương, dự thảo giao Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm “khắc phục việc hủy án nhiều lần không có căn cứ pháp luật dẫn đến kéo dài việc giải quyết”. Cách quy định này có thể được hiểu là chỉ những vụ án bị hủy nhiều lần không có căn cứ pháp luật mới thuộc diện phải khắc phục, trong khi các trường hợp hủy án không có căn cứ pháp luật nhưng chỉ xảy ra một lần lại chưa được đề cập.
ĐB Siu Hương cho rằng việc hủy án không có căn cứ pháp luật dù chỉ xảy ra một lần cũng cần được khắc phục, bởi đều làm kéo dài quá trình giải quyết vụ án và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự. Việc giữ cụm từ “nhiều lần” sẽ vô tình thu hẹp trách nhiệm của cơ quan Tòa án.
Từ đó, đại biểu đề nghị bỏ cụm từ “nhiều lần” tại điểm b khoản 2 Điều 4 và sửa quy định thành: “Khắc phục việc hủy án không có căn cứ pháp luật dẫn đến kéo dài việc giải quyết”. Quy định này sẽ bảo đảm tính khách quan, đồng thời nâng cao trách nhiệm của cơ quan Tòa án trong bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.