Cần thể chế hóa mục tiêu kiến trúc xanh hướng tới Net Zero
Tham gia thảo luận, đại biểu (ĐB) Lê Hoàng Anh cho rằng, trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện các cam kết về tăng trưởng xanh, giảm phát thải và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, đặc biệt là AI, những nội dung này cần được thể chế hóa trong Luật Kiến trúc.
Tuy nhiên, dự thảo luật lần này chưa đề cập đầy đủ. Theo đại biểu, dự thảo đang tồn tại sự thiếu thống nhất khi chỉ khuyến khích phát triển kiến trúc xanh, tiết kiệm năng lượng đối với kiến trúc nông thôn theo điểm a khoản 2 Điều 11, trong khi kiến trúc đô thị - nơi tập trung phần lớn công trình xây dựng và tiêu thụ năng lượng lớn lại chưa có quy định tương tự.
Đại biểu nhận định đây là nghịch lý bởi khu vực đô thị mới là nơi cần ưu tiên áp dụng các giải pháp kiến trúc xanh nhằm giảm phát thải, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và góp phần thực hiện các cam kết quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu.
Đối với quy định về tiết kiệm năng lượng tại khoản 3 Điều 12, đại biểu cho rằng nội dung này mới chỉ được lồng ghép như một yêu cầu chung, chưa xác định rõ tiêu chí và lộ trình thực hiện, trong khi xây dựng là một trong những lĩnh vực được ưu tiên cắt giảm phát thải.
Theo ĐB Hoàng Anh, Luật Kiến trúc cần tập trung quản lý ngay từ khâu thiết kế với các yếu tố như định hướng công trình, hình khối kiến trúc, lựa chọn vật liệu, giải pháp thông gió tự nhiên... Đây là những yếu tố quyết định hiệu quả sử dụng năng lượng, trước khi các quy chuẩn kỹ thuật của ngành xây dựng được áp dụng.
Từ đó, đại biểu đề nghị bổ sung quy định về kiến trúc xanh đối với khu vực đô thị tương đương với kiến trúc nông thôn; tách nội dung tiết kiệm năng lượng thành một khoản riêng, yêu cầu hồ sơ thiết kế phải thuyết minh các giải pháp kiến trúc thích ứng với khí hậu và mức độ đáp ứng lộ trình giảm phát thải quốc gia đến năm 2050.
Bên cạnh đó, ĐB Hoàng Anh kiến nghị đưa tiêu chí kiến trúc xanh và giảm phát thải vào hệ thống tiêu chí bắt buộc khi chấm điểm các phương án thi tuyển kiến trúc, qua đó khuyến khích các giải pháp thiết kế bền vững ngay từ giai đoạn lựa chọn phương án.
Đồng quan điểm, ĐB Nguyễn Văn Cảnh cũng cho rằng dự thảo đang quy định khuyến khích kiến trúc xanh, tiết kiệm năng lượng đối với kiến trúc nông thôn nhưng chưa có quy định tương tự đối với kiến trúc đô thị, trong khi đây mới là khu vực có nhu cầu cấp thiết hơn về tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải.
Theo đại biểu, kiến trúc xanh ở đô thị và ở nông thôn có những đặc điểm khác nhau. Kiến trúc xanh đô thị cần ưu tiên các giải pháp vật liệu, thiết kế nhằm hạn chế hấp thụ nhiệt, giảm nhu cầu sử dụng điều hòa và tiết kiệm năng lượng.
Trong khi đó, kiến trúc xanh nông thôn cần chú trọng phát huy cảnh quan tự nhiên, tăng diện tích cây xanh, tận dụng thông gió tự nhiên và khai thác vật liệu địa phương. Từ đó, ĐB Cảnh đề nghị quy định riêng tiêu chí đối với kiến trúc xanh đô thị và kiến trúc xanh nông thôn.
Đối với kiến trúc nông thôn, cần nhấn mạnh yêu cầu kế thừa giá trị kiến trúc truyền thống, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc; phù hợp với cảnh quan thiên nhiên và không gian kiến trúc của khu vực; kết hợp hài hòa giữa yếu tố truyền thống và hiện đại; ưu tiên sử dụng vật liệu địa phương, áp dụng các giải pháp kỹ thuật tiên tiến và khuyến khích phát triển kiến trúc xanh nhằm tạo nên bản sắc riêng cho khu vực nông thôn.
Đối với kiến trúc đô thị, cần điều chỉnh thứ tự ưu tiên trong các nguyên tắc phát triển kiến trúc. Theo ĐB Cảnh, ở đô thị, yêu cầu quan trọng hàng đầu là bảo đảm sự hài hòa với không gian kiến trúc và cảnh quan hiện hữu. Việc kế thừa bản sắc văn hóa dân tộc vẫn rất cần thiết nhưng nên được thực hiện trên cơ sở tôn trọng tổng thể không gian kiến trúc của khu vực.
Từ những phân tích trên, ĐB Cảnh đề nghị Ban soạn thảo tiếp tục rà soát, bổ sung các quy định về nhận diện bản sắc kiến trúc, hoàn thiện tiêu chí phát triển kiến trúc xanh và bảo đảm nguyên tắc hài hòa cảnh quan trong phát triển kiến trúc đô thị, góp phần xây dựng nền kiến trúc vừa hiện đại, vừa giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa đặc trưng của dân tộc.
Luật hóa trách nhiệm khi ứng dụng AI trong thiết kế kiến trúc
Liên quan đến xu hướng ứng dụng AI trong thiết kế kiến trúc, ĐB Lê Hoàng Anh cho rằng dự thảo luật chưa có quy định điều chỉnh, trong khi AI đang trở thành công cụ hỗ trợ phổ biến trong hoạt động này.
Theo đại biểu, việc sử dụng AI là xu hướng tất yếu và cần được khuyến khích, song điều quan trọng là phải xác định rõ trách nhiệm của kiến trúc sư đối với sản phẩm thiết kế. Nếu phương án thiết kế do AI hỗ trợ xảy ra sai sót hoặc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ do sử dụng dữ liệu huấn luyện không hợp pháp thì trách nhiệm vẫn phải thuộc về kiến trúc sư đứng tên hồ sơ, không thể chuyển cho công cụ AI.
ĐB Hoàng Anh cũng chỉ ra rằng, Điều 24 của dự thảo mới quy định cơ sở dữ liệu về năng lực hành nghề, nhưng chưa xây dựng cơ sở dữ liệu lưu trữ hồ sơ thiết kế. Điều này sẽ gây khó khăn trong việc đối chiếu, phát hiện các phương án sao chép hoặc vi phạm bản quyền khi AI có thể tạo ra nhiều phương án thiết kế trong thời gian rất ngắn.
Để khắc phục khoảng trống pháp lý này, đại biểu đề nghị bổ sung quy định tại Điều 12 yêu cầu kê khai việc sử dụng AI trong hồ sơ thiết kế, đồng thời khẳng định kiến trúc sư chủ trì phải chịu trách nhiệm cuối cùng đối với sản phẩm.
Đồng thời, kiến nghị luật hóa nguyên tắc “trách nhiệm không chuyển giao” tại Điều 32, theo đó việc sử dụng AI không làm giảm hay miễn trừ trách nhiệm nghề nghiệp của kiến trúc sư.
Bên cạnh đó, ĐB Hoàng Anh đề xuất giao Chính phủ nghiên cứu bổ sung cơ sở dữ liệu về hồ sơ và đặc điểm thiết kế vào Điều 24 nhằm tạo công cụ đối chiếu, phòng ngừa sao chép, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cũng như gìn giữ bản sắc kiến trúc trong bối cảnh AI ngày càng được ứng dụng rộng rãi.
Trong khi đó, ĐB Trần Kim Kha cho rằng dự thảo luật đã bổ sung quy định bắt buộc áp dụng Mô hình thông tin công trình (BIM) trong lập hồ sơ thiết kế kiến trúc nhưng Điều 18 về lưu trữ vẫn chưa công nhận giá trị pháp lý của hồ sơ thiết kế điện tử và mô hình BIM trong lưu trữ…
Theo đại biểu, điều này khiến doanh nghiệp vừa phải lập mô hình số, vừa phải in và lưu hồ sơ giấy, phát sinh chi phí kép, đồng thời chưa khai thác được giá trị của dữ liệu BIM trong quản lý, vận hành và cải tạo công trình.
Đại biểu kiến nghị bổ sung quy định vào Điều 18 theo hướng: “Hồ sơ thiết kế kiến trúc, mô hình thông tin công trình được lập, lưu trữ dưới dạng điện tử có giá trị pháp lý như hồ sơ giấy khi đáp ứng quy định của pháp luật về giao dịch điện tử và pháp luật về lưu trữ. Cơ quan, tổ chức ưu tiên lưu trữ khai thác dưới dạng hồ sơ điện tử”.
Rà soát quy định miễn thi tuyển phương án kiến trúc
Ngoài các nội dung trên, ĐB Lê Hoàng Anh cũng đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát quy định về miễn thi tuyển phương án kiến trúc đối với công trình khẩn cấp, công trình đầu tư đặc biệt hoặc cấp bách.
Theo đại biểu, tính cấp bách của một dự án chủ yếu liên quan đến việc rút ngắn quy trình, thủ tục đầu tư, chứ không đồng nghĩa với việc yêu cầu về chất lượng kiến trúc được hạ thấp. Do đó, cần làm rõ cơ sở của việc miễn thi tuyển phương án kiến trúc để tránh tình trạng mở rộng phạm vi miễn không cần thiết.
Đại biểu Hoàng Anh cũng bày tỏ băn khoăn đối với đề xuất miễn thi tuyển phương án kiến trúc cho một số công trình không sử dụng vốn đầu tư công. Theo đại biểu, dù là công trình của khu vực tư nhân nhưng nếu được xây dựng tại các vị trí quan trọng như cửa ngõ đô thị, trung tâm tài chính hoặc các không gian kiến trúc đặc thù thì vẫn có tác động lớn đến cảnh quan và bản sắc đô thị.
Vì vậy, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định nhằm bảo đảm yêu cầu quản lý kiến trúc, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và nâng cao chất lượng không gian kiến trúc trong quá trình phát triển đô thị.
Cùng mối quan tâm, ĐB Nguyễn Thị Mai Phương cho rằng dự thảo đã quy định khái niệm thi tuyển, tuyển chọn cũng như xác định các công trình bắt buộc phải tổ chức thi tuyển. Tuy nhiên, dự thảo lại chưa quy định cụ thể trường hợp nào áp dụng hình thức tuyển chọn phương án kiến trúc.
Theo đại biểu, nếu luật không quy định nguyên tắc hoặc phạm vi áp dụng của hình thức tuyển chọn thì Chính phủ cũng sẽ gặp khó khăn khi xây dựng văn bản hướng dẫn chi tiết.
Vì vậy, đại biểu đề nghị Ban soạn thảo bổ sung quy định ngay trong luật để xác định rõ trường hợp áp dụng thi tuyển và trường hợp áp dụng tuyển chọn, làm cơ sở cho Chính phủ quy định chi tiết, góp phần bảo đảm tính minh bạch và khả thi của các quy định sau khi luật được ban hành.
Còn ĐB Trần Kim Kha cho rằng, tại Điều 17 của dự thảo luật đang tồn tại sự mâu thuẫn giữa khoản 3 và khoản 6 về hình thức thi tuyển kiến trúc. Cụ thể, khoản 3 quy định 3 nhóm công trình bắt buộc phải thi tuyển phương án kiến trúc, trong khi khoản 6 lại giao cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư lựa chọn hình thức “thi tuyển hoặc tuyển chọn kiến trúc” mà không loại trừ các công trình thuộc diện bắt buộc thi tuyển.
Theo đại biểu, quy định này có thể dẫn đến việc người quyết định đầu tư lựa chọn hình thức tuyển chọn đối với cả các công trình bắt buộc thi tuyển, làm vô hiệu hóa quy định tại khoản 3.
Từ đó, đại biểu đề nghị chỉnh lý khoản 6 Điều 17 theo hướng: đối với công trình không thuộc khoản 3 thì cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư được lựa chọn hình thức thi tuyển hoặc tuyển chọn kiến trúc; còn đối với các công trình thuộc khoản 3 thì chỉ quyết định việc tổ chức thi tuyển kiến trúc.