Rau an toàn khó tìm đầu ra

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

(GLO)- Năm 2012, UBND phường Thống Nhất (TP. Pleiku) đã triển khai mô hình trồng rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP. Tuy nhiên, qua 6 năm triển khai, việc giải quyết đầu ra cho sản phẩm rau an toàn vẫn đang là vấn đề hết sức nan giải.

Ý thức người sản xuất được nâng cao

Hơn 4 giờ chiều, trên mảnh vườn hơn 2.000 m2 trồng đủ các loại rau xanh, vợ chồng ông Nguyễn Văn Huyền (tổ 3, phường Thống Nhất) đang cặm cụi thu hoạch nốt đám cải cúc để làm lại đất luân canh loại rau khác. Ông Huyền chia sẻ: “Gia đình tôi sản xuất rau an toàn từ năm 2012. Gắn bó với nghề trồng rau đã gần 20 năm, tôi nhận thấy sản xuất rau theo tiêu chuẩn VietGAP giúp giảm đáng kể sức lao động, giảm những mối nguy hại đến sức khỏe do không phải sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật như trước đây. Thay vào đó, sản xuất rau theo tiêu chuẩn VietGAP chỉ dùng phân bón và các chế phẩm sinh học, sản phẩm khi thu hoạch phải được theo dõi quá trình cách ly nhằm đảm bảo mức cho phép tồn dư thuốc”.

 

Việc nhân rộng mô hình sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP của nhiều hộ dân phường Thống Nhất (TP. Pleiku) đang gặp khó khăn. Ảnh: V.T

Cũng như ông Huyền, từ lâu, gia đình chị Võ Thị Hồng (tổ 3, phường Thống Nhất) đã áp dụng quy trình sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP. “Khi vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đang ngày càng trở nên nhức nhối, chúng tôi luôn ý thức đem đến sản phẩm an toàn nhất cho người tiêu dùng”.

Là người gắn bó với mô hình từ ngày đầu triển khai, cũng là người đặt vấn đề với Chi cục Quản lý chất lượng Nông-Lâm sản và Thủy sản (Sở Nông nghiệp và PTNT) về việc hỗ trợ và vận động nông dân trong phường chuyển từ sản xuất rau thông thường sang trồng rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, ông Bùi Ngọc Nam-nguyên Chủ tịch Hội Nông dân phường Thống Nhất, cho biết: Ban đầu, chúng tôi vận động được 30 hộ sản xuất rau xanh ở tổ 3 và tổ 6 tham gia với diện tích 15 ha.

Để giúp các hộ có cơ hội tiếp cận với phương thức sản xuất rau an toàn, ngay từ khi triển khai, mỗi hộ được cấp giống, phân bón, được hướng dẫn quy trình kỹ thuật sản xuất, được cấp sổ nông lịch để ghi chép theo dõi quá trình xuống giống, bón phân, dùng chế phẩm sinh học, thu hoạch. Qua một thời gian, hiệu quả mang lại rõ rệt nhất của mô hình là đã làm thay đổi cách làm của bà con nông dân để hướng đến một nền sản xuất an toàn. Trong quá trình sản xuất, những hộ đăng ký tham gia mô hình liên tục được kiểm tra bằng máy test nhanh sản phẩm và kết quả luôn đạt tiêu chuẩn chứng nhận an toàn thực phẩm. Từ đó để thấy rằng, dù là sản xuất đơn lẻ nhưng ý thức của người dân đã được nâng lên rõ rệt.

Cần xây dựng thương hiệu rau an toàn

Việc vận động người dân từ bỏ thói quen canh tác cũ tiến đến sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP là một thành công lớn trong thời buổi giá cả và đầu ra bấp bênh như hiện nay. Song, làm thế nào để tất cả người dân tham gia thì ngay cấp quản lý cũng như bản thân người sản xuất đều rất trăn trở. “Hiện nay, chúng tôi làm được bao nhiêu đều tự tìm mối bán, chủ yếu là bán cho các vựa rau ở chợ đêm Pleiku. Việc tìm đến các siêu thị hay cửa hàng tiện lợi rất khó vì sản phẩm làm ra không có chứng nhận thương hiệu, thử hỏi ai tin?”-chị Võ Thị Hồng bộc bạch.  

Theo bà Phạm Thị Tranh-Chủ tịch Hội Nông dân phường Thống Nhất, do đầu ra không có, người dân phải tự tìm mối bán cho các thương lái nên giá rau an toàn cũng chỉ ngang bằng với giá rau sản xuất kiểu truyền thống. Trong khi đó, quy trình sản xuất phải áp dụng tiêu chuẩn nghiêm ngặt và chi phí cũng cao hơn. Điều này khiến việc nhân rộng mô hình gặp nhiều khó khăn. Thậm chí, qua 6 năm triển khai mô hình, từ 30 hộ tham gia ban đầu với diện tích 15 ha, nay chỉ còn 22 hộ tham gia với diện tích 10 ha.

“Việc xây dựng thương hiệu rất quan trọng đối với thực phẩm. Do đó, cần có một đầu mối đứng ra liên kết các hộ lại với nhau trong sản xuất, đồng thời bao tiêu sản phẩm cho nông dân và đăng ký nhãn hiệu. Làm được việc này mới mong sản phẩm rau an toàn của người dân có được đầu ra ổn định. Và một khi đã có đầu ra ổn định thì người dân sẽ yên tâm sản xuất. Việc nhân rộng mô hình ở những địa bàn khác cũng sẽ nhanh chóng và mang lại hiệu quả”-bà Tranh trăn trở.

Vũ Thảo

Có thể bạn quan tâm

gia-lai-xu-ly-dut-diem-ton-tai-chong-khai-thac-IUU

Gia Lai: Xử lý dứt điểm tồn tại trong chống khai thác IUU

(GLO)- Phó Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai Dương Mah Tiệp vừa ký ban hành Văn bản số 12699/UBND-NNMT yêu cầu các sở, ngành, lực lượng và địa phương liên quan khẩn trương khắc phục những tồn tại trong đợt cao điểm chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).

Liên kết sản xuất giúp cà phê Bờ Ngoong vươn xa

Liên kết sản xuất giúp cà phê Bờ Ngoong vươn xa

(GLO)- Từ những rẫy cà phê sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, người dân xã Bờ Ngoong (tỉnh Gia Lai) đang thay đổi cách làm bằng việc liên kết vào hợp tác xã (HTX), sản xuất theo quy trình bền vững, xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn và kết nối với doanh nghiệp để nâng tầm giá trị cà phê địa phương.

gia-lai-huong-dan-ngu-dan-khai-thac-hai-san-an-toan-hieu-qua

Gia Lai tăng cường hướng dẫn ngư dân khai thác hải sản an toàn, hiệu quả

(GLO)- Phó Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai Dương Mah Tiệp đã ký ban hành Văn bản 12566/UBND-NNMT gửi các sở, ngành, địa phương ven biển yêu cầu tăng cường hướng dẫn ngư dân khai thác hải sản phù hợp với ngư trường, nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo đảm an toàn cho người, tàu cá hoạt động trên biển.

Nâng cao giá trị ngành hàng chanh dây

Gia Lai đầu tư nâng cao giá trị ngành hàng chanh dây

(GLO)- Gia Lai có khoảng 5.500 ha chanh dây, sản lượng khoảng 210 nghìn tấn/năm. Từ quả chanh dây tươi, nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã đã tạo ra nhiều sản phẩm như dịch cấp đông, nước ép cô đặc, tinh cốt..., qua đó mở rộng đầu ra, nâng giá trị và giảm áp lực tiêu thụ trong mùa thu hoạch.

2,5 triệu ha rừng keo và nghịch lý bán nguyên liệu giá rẻ

2,5 triệu ha rừng keo và nghịch lý bán nguyên liệu giá rẻ

(GLO)- Việt Nam hiện có khoảng 2,5 triệu ha rừng keo, chiếm phần lớn diện tích rừng keo của thế giới. Thế nhưng khoảng 80% sản lượng gỗ keo vẫn được đưa vào sản xuất dăm gỗ và viên nén, đặt ra bài toán chuyển từ bán nguyên liệu giá trị thấp sang chế biến sâu, tạo giá trị cao hơn.

Học làm nông nghiệp qua những mùa cây

Học làm nông nghiệp qua những mùa cây

(GLO)- Từ mô hình sản xuất thực tế, Khoa Nông nghiệp và Môi trường đưa bài học vào kỹ năng nghề, lấy những vấn đề phát sinh làm chất liệu đổi mới đào tạo, gắn nhà trường với sản xuất và nhu cầu doanh nghiệp.

Chuyển đổi cây trồng hiệu quả, mở hướng giảm nghèo

Chuyển đổi cây trồng hiệu quả, mở hướng giảm nghèo

(GLO)- Từ những diện tích sản xuất kém hiệu quả, người dân xã Ia Tôr (tỉnh Gia Lai) đang từng bước thay đổi tư duy, lựa chọn cây trồng phù hợp để nâng cao hiệu quả sản xuất. Ðây cũng là hướng đi được xã thúc đẩy, đưa sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa, tạo sinh kế và giảm nghèo bền vững.

Ưu tiên nghiên cứu các giống cây trồng chủ lực

Ưu tiên nghiên cứu các giống cây trồng chủ lực

(GLO)- Bám sát định hướng sản xuất của tỉnh Gia Lai và các địa phương trong khu vực, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung Bộ (phường Quy Nhơn Nam) tập trung chọn tạo, chuyển giao các giống cây trồng có năng suất, chất lượng, khả năng thích ứng tốt.

null