Còn bất cập trong thực hiện chính sách miễn thu thủy lợi phí

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

(GLO)- Chính sách miễn thu thủy lợi phí đã có hiệu lực từ hơn 3 năm nay giúp nông dân giảm được một khoảng chi phí đáng kể trong sản xuất. Mặc dù vậy, theo đánh giá của các cơ quan chuyên môn, chính sách miễn thu thủy lợi phí hiện nay vẫn còn nhiều bất cập.

Nghị định số 115/2008/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách miễn thu thủy lợi phí không chỉ giúp đơn vị quản lý khai thác có nguồn thu ổn định để phục vụ nhu cầu sản xuất tưới tiêu cho người dân tốt hơn mà còn mang lại niềm vui lớn cho người nông dân khi đã giảm được một phần gánh nặng trong chi phí sản xuất hàng năm.

 

Ảnh: Đức Thụy
Ảnh: Đức Thụy

Với chính sách miễn thu thủy lợi phí và Nhà nước cấp bù, hàng năm Công ty TNHH một thành viên Khai thác Công trình Thủy lợi được cấp bù một khoản kinh phí nhất định. Năm 2013 được cấp bù trên 26 tỷ đồng và năm 2014 khoảng 27 tỷ đồng. Theo Công ty này, từ khi thực hiện chính sách miễn thu thủy lợi phí, diện tích cây trồng nằm trong vùng có công trình thủy lợi không ngừng mở rộng. Trước đây, diện tích sản xuất nằm trong vùng hưởng lợi khoảng 25.000 ha cây trồng/năm, đến nay con số này đã tăng lên gần 27.000 ha. Kết quả này là nhờ một số công trình thủy lợi mới được đầu tư xây dựng đưa vào sử dụng cách đây chưa lâu như Ia Ring (huyện Chư Sê), Ia Mláh (huyện Krông Pa), Plei Pai-Ia Lốp (huyện Chư Prông)…

Thuận lợi lớn nhất từ khi có chính sách này là các đơn vị thủy nông không còn phải đi thu tiền từng hộ gia đình như trước đây. Thay vào đó Nhà nước đã trả thay cho người nông dân. Bên cạnh đó, lực lượng thu tiền thủy lợi phí cũng đã cắt giảm đáng kể. Đặc biệt, giảm được tình trạng nợ thủy lợi phí dây dưa từ vụ này kéo sang vụ kia.

Chính sách miễn thu thủy lợi phí theo Nghị định 115 đã mang lại niềm tin lớn cho người nông dân trong sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên theo nội dung của Nghị định 67/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10-9-2012 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 143/2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệ công trình thủy lợi có hiệu lực từ ngày 1-1-2013 xuất hiện một số bất cập. Một trong những bất cập lớn nhất của Nghị định 67/2012/NĐ-CP là việc đo đếm khối lượng nước sử dụng để tưới các loại cây công nghiệp. Theo quy định của Bộ Nông nghiệp và PTNT, định suất cho việc tưới 1 ha cà phê là 2.000 m3-2.800 m3 nước/ha/vụ. Tuy nhiên hiện nay đơn vị quản lý, khai thác nguồn nước không thể đo đếm được. Bên cạnh đó, cùng một Nghị định 67/2012/NĐ-CP nhưng lại vận dụng rất khác nhau về mức tính các loại cây công nghiệp ở các địa phương trong cả nước. Đặc biệt, cây lúa nước trên địa bàn tỉnh chỉ được tính 1 vụ sản xuất/ năm, trong khi các tỉnh khác từ 2 đến 3 vụ/năm.

Ông Lê Viết Đại-Phó Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Khai thác Công trình Thủy lợi tỉnh cho biết: “Thực hiện Nghị định 67/2012/NĐ-CP về miễn thu thủy lợi phí như hiện nay, đơn vị gặp nhiều vướng mắc. Trong đó, vướng mắc nhất hiện nay là việc đo đếm khối lượng nước vì chi phí lắp ráp đồng hồ quá lớn. Nếu lắp ráp thì chi phí xăng dầu, điện sẽ tăng cao dẫn đến sự không đồng tình của người sử dụng nước. Trước những bất cập này, Công ty đã vận dụng mức kho đo đếm khác bằng cách tính 1 ha lượng nước tưới cà phê bằng 80% lượng nước tưới của 1 vụ lúa. Chính vì những bất cập này đã làm doanh thu của Công ty giảm 5 tỷ đồng/năm so với những năm trước”.

Gia Lai là tỉnh có thế mạnh phát triển nông-lâm nghiệp nhất là các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như cà phê, hồ tiêu và cao su… Đây là những loại cây cần nhiều nước tưới. Do vậy, những bất cập trong việc thực hiện Nghị định 67/2012/ NĐ-CP cần được sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.

Nguyễn Diệp

Có thể bạn quan tâm

Bộ Công thương thí điểm tính giá điện 2 thành phần, tiền điện ảnh hưởng ra sao?

Bộ Công thương thí điểm tính giá điện 2 thành phần, tiền điện ảnh hưởng ra sao?

Giá bán điện 2 thành phần có nhiều ưu thế vượt trội với mục tiêu tính đúng, tính đủ chi phí mà người tiêu dùng điện gây ra cho hệ thống. Bộ Công thương khẳng định, thí điểm cần thiết để đánh giá, tính toán được khoản tiền điện chênh lệch giữa biểu giá điện hiện hành và biểu giá điện 2 thành phần.