Từ một trải nghiệm đáng nhớ
Từ tỉnh Lâm Đồng về xã Cát Tiến thăm cha mẹ trong những ngày nghỉ Tết Dương lịch 2026, tranh thủ thời gian, anh Võ Quang Vinh (SN 1976) quyết định đi điều trị chứng gai cột sống tại Khoa Phục hồi chức năng, Bệnh viện Y học cổ truyền và Phục hồi chức năng Quy Nhơn (phường Quy Nhơn Bắc).
Điều khiến anh nhớ nhất trong lần điều trị này không phải là diễn biến bệnh lý, mà là trải nghiệm hoàn toàn khác: Không còn cảnh dò tìm sổ khám, không phải mang theo xấp giấy tờ dày cộp, cũng không phải đi lại nhiều vòng giữa các phòng ban chỉ để “hoàn tất thủ tục”.
Với một thao tác quẹt thẻ CCCD tại kiosk y tế, toàn bộ thông tin hành chính của anh đã hiển thị trên hệ thống. Bác sĩ không còn hỏi lại những câu quen thuộc về tiền sử bệnh, đơn thuốc cũ hay hồ sơ giấy.
Cuộc trao đổi giữa bác sĩ và bệnh nhân vì thế diễn ra gọn gàng, tập trung vào vấn đề sức khỏe. Khi nhập viện điều trị nội trú, từ bệnh án, chỉ định đến kết quả cận lâm sàng… tất cả đều “chạy trước” người bệnh, thay vì “đi sau” như trước đây.
“Không phải mang theo cả xấp giấy tờ, cũng không phải quay lại nhiều lần để bổ sung hồ sơ. Cảm giác lo lắng ban đầu nhanh chóng nhường chỗ cho sự nhẹ nhõm, một trạng thái hiếm hoi với người bệnh khi đến bệnh viện” - anh Vinh chia sẻ.
Quy trình khám chữa bệnh mới
Trải nghiệm của anh Vinh là kết quả trực tiếp từ việc triển khai hệ thống hồ sơ bệnh án điện tử (Electronic Medical Record - EMR) tại Bệnh viện Y học cổ truyền và Phục hồi chức năng Quy Nhơn. Bệnh viện chính thức sử dụng EMR và khép lại việc sử dụng bệnh án giấy từ cuối tháng 9-2025.
Toàn bộ thông tin người bệnh được liên thông xuyên suốt từ khâu tiếp đón, khám lâm sàng, cận lâm sàng đến điều trị và theo dõi phục hồi. Dữ liệu không còn rời rạc hay bị động, mà trở thành “xương sống” dẫn dắt toàn bộ quy trình khám, chữa bệnh mới có chất phục vụ người bệnh cao hơn trước rất nhiều.
Bác sĩ CKI Võ Ngọc Phải - Giám đốc Bệnh viện Y học cổ truyền và Phục hồi chức năng Quy Nhơn, dẫn chứng con số phản ánh rất rõ sự thay đổi: Thời gian tiếp đón trung bình một bệnh nhân từ khoảng 10 phút trước đây đã giảm còn khoảng 1 phút.
Bác sĩ không còn phải ghi chép thủ công, dò tìm hồ sơ cũ hay nhập lại dữ liệu nhiều lần; người bệnh cũng không phải đi lại giữa các phòng chỉ để hoàn tất giấy tờ.
“EMR đã thay đổi đáng kể cách làm việc hằng ngày. Khi thông tin đã được chuẩn hóa và có sẵn, bác sĩ tập trung nhiều hơn vào chuyên môn, vào đánh giá tiến triển điều trị, thay vì bị cuốn vào các thao tác hành chính lặp lại.
Hiệu quả của EMR không chỉ nằm ở việc bỏ hồ sơ giấy hay giảm chi phí, mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng dịch vụ, từ đó thu hút người bệnh” - bác sĩ Phải nói.
Đối với bác sĩ điều trị, bác sĩ CKI Đặng Tấn Lai - Phó Trưởng Khoa Phục hồi chức năng - cho rằng, với đặc thù điều trị dài ngày của phục hồi chức năng, dữ liệu số giúp bác sĩ có cái nhìn liên tục, nhất quán về diễn biến bệnh. Mỗi lần người bệnh quay lại, toàn bộ lịch sử điều trị đã hiển thị đầy đủ trên hệ thống. Điều này rất quan trọng với các phác đồ cần theo dõi lâu dài.
EMR nói riêng, chuyển đổi số ở ngành Y tế tỉnh Gia Lai nói chung đang làm thay đổi rõ nét nhịp vận hành tại nhiều cơ sở y tế. Tại Bệnh viện Nhi tỉnh (phường Pleiku), nơi đối tượng phục vụ chủ yếu là trẻ em, việc rút ngắn thời gian chờ đợi mang ý nghĩa lớn hơn rất nhiều so với những con số thống kê.
“Khi quy trình tiếp đón, khám chữa bệnh được rút gọn nhờ dữ liệu số, áp lực tâm lý của cả trẻ và người nhà đều giảm đáng kể. Sự thuận tiện trong thủ tục giúp chúng tôi tập trung hơn vào chăm sóc và tư vấn” - bác sĩ CKII Đặng Hữu Chiến - Giám đốc Bệnh viện Nhi tỉnh nhận định.
Trong khi đó, theo bác sĩ CKI Nguyễn Minh Tuấn - Phó Giám đốc phụ trách TTYT An Nhơn, bình quân mỗi ngày đơn vị tiếp nhận 500-700 lượt khám ngoại trú, cao điểm lên khoảng 1.000 lượt/ngày; tỷ lệ điều trị nội trú bình quân 78% công suất sử dụng giường bệnh (chỉ tiêu giao 350 giường).
“Việc ứng dụng EMR đã giúp giảm đáng kể áp lực cho đội ngũ y bác sĩ. Trước đây, mỗi ca khám kéo theo một khối lượng giấy tờ lớn; nay nhiều khâu đã được số hóa, giúp bác sĩ có thêm thời gian dành cho người bệnh” - bác sĩ Tuấn nói.
Dữ liệu đi trước, quản trị ngành y tế thay đổi
Theo Sở Y tế, năm 2025, ngành Y tế tỉnh đã hoàn thành nhiều nhiệm vụ trọng tâm trong lộ trình chuyển đổi số với quy mô triển khai đồng bộ trên 12 bệnh viện và 28 TTYT trực thuộc.
Trong đó, EMR được xác định là trụ cột. Tại phía Đông tỉnh, đến giữa năm 2025, 100% đơn vị đã công bố hoàn thành triển khai EMR giai đoạn cơ bản; khu vực phía Tây tỉnh hoàn thành mốc quan trọng này vào cuối tháng 9-2025.
Toàn bộ cơ sở khám, chữa bệnh đã được thẩm định đạt yêu cầu EMR, một bước tiến có ý nghĩa đặc biệt khi lần đầu tiên dữ liệu bệnh án được chuẩn hóa và vận hành đồng bộ trên phạm vi toàn tỉnh.
Đi cùng với EMR là việc triển khai kiosk y tế thông minh. Không dừng ở việc lắp đặt thiết bị, mục tiêu đặt ra là tạo công cụ để người dân chủ động tra cứu thông tin, đăng ký khám, lấy số thứ tự tự động và thanh toán viện phí không dùng tiền mặt. Khu vực phía Đông tỉnh hoàn thành lắp đặt 55 kiosk, khu vực phía Tây tỉnh hoàn thành 28 kiosk.
Ý nghĩa của kiosk y tế không nằm ở số lượng thiết bị, mà ở việc giảm tải khâu hành chính, “điểm nghẽn” kéo dài nhiều năm trong hoạt động khám chữa bệnh. Khi người dân tự thao tác, dữ liệu được đồng bộ trực tiếp vào hệ thống quản lý bệnh viện, hạn chế sai sót và trùng lặp nhập liệu.
Giám đốc Sở Y tế Lê Quang Hùng khẳng định, EMR và kiosk y tế không chỉ giúp giảm chi phí giấy tờ, mà còn nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, công tác quản lý, tạo nền tảng cho phân tích dữ liệu y tế ở quy mô lớn.
Một bước đi quan trọng khác là kết nối dữ liệu khám, chữa bệnh với Hệ thống điều phối dữ liệu y tế quốc gia. Đến nay, 100% cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở đã hoàn thành kết nối, bảo đảm tuân thủ các quy định về bảo mật, mã định danh và quy trình kỹ thuật.
Việc liên thông dữ liệu này mở ra khả năng điều trị liên tuyến thực chất, thay vì chỉ chuyển giấy tờ. Dữ liệu y tế của người bệnh được chia sẻ kịp thời, phục vụ chẩn đoán và điều trị, đồng thời tạo nền tảng kết nối với các bệnh viện tuyến Trung ương theo lộ trình.
“Một trong những hiệu quả của chuyển đổi số y tế là thay đổi cách quản trị. Khi dữ liệu được chuẩn hóa và cập nhật theo thời gian thực, lãnh đạo có cơ sở điều hành chính xác, minh bạch hơn; nhìn rõ hơn những điểm quá tải, bất cập trong phân bổ nguồn lực để điều chỉnh kịp thời.
Quan trọng hơn, dữ liệu tạo ra cơ chế giám sát hiệu quả, gắn trách nhiệm của từng đơn vị với chất lượng phục vụ người bệnh” - ông Hùng khẳng định.