Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân mới: Thêm trung học nghề
Quyết định 38/2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, có hiệu lực thi hành từ ngày 7.9 là một trong những chính sách mới trong lĩnh vực giáo dục.
Việc xây dựng khung mới nhằm bảo đảm sự thống nhất và liên thông trong hệ thống giáo dục, tạo cơ sở cho việc công nhận và chuyển tiếp kết quả học tập giữa các cấp học và trình độ đào tạo, giúp người học tiếp tục học tập ở các chương trình khác nhau trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Đồng thời bảo đảm cơ sở cho việc thông tin minh bạch về lộ trình học tập, hỗ trợ người học định hướng nghề nghiệp, lựa chọn con đường học tập và phát triển cá nhân trong quá trình học tập suốt đời.
Cụ thể, hệ thống giáo dục quốc dân được phân thành 9 cấp độ chương trình giáo dục, từ cấp độ 0 đến cấp độ 8. Cấp độ 0 tương ứng với giáo dục mầm non (3 tháng tuổi đến 6 tuổi); cấp độ 1 là giáo dục tiểu học (6 tuổi, học 5 năm); cấp độ 2 là THCS (11 tuổi, học 4 năm); cấp độ 3 gồm THPT (15 tuổi, 3 năm) và trung học nghề (15 tuổi, 3 năm); cấp độ 4 là trung cấp (18 tuổi, 1-2 năm); cấp độ 5 là CĐ (18 tuổi, 2-3 năm) ; cấp độ 6 là ĐH (18 tuổi, 3-4 năm theo 2 hướng nghiên cứu học thuật hoặc ứng dụng/chuyên nghiệp); cấp độ 7 là thạc sĩ (1-2 năm theo 2 hướng nghiên cứu học thuật hoặc ứng dụng/chuyên nghiệp) và cấp độ 8 là tiến sĩ (3-4 năm).
Đây là lần đầu tiên chương trình giáo dục trung học nghề (3 năm, dành cho lứa tuổi từ 15) được đưa vào sơ đồ cơ cấu hệ thống chính thức, xếp ở cấp độ 3 ngang hàng với THPT về luồng học tập sau THCS.
Khung mới cũng quy định cụ thể cách phân loại đối với các chương trình đào tạo tích hợp (tích hợp ĐH - thạc sĩ, tích hợp thạc sĩ - tiến sĩ) và các chương trình đào tạo chuyên sâu đặc thù.
Đồng thời, quy định nguyên tắc và khung thời gian đào tạo chuẩn cho từng trình độ để làm căn cứ thiết kế chương trình cũng như đảm bảo tính tương thích và liên thông chặt chẽ với Khung trình độ quốc gia Việt Nam (Quyết định 39/2026/QĐ-TTg) cũng như phân loại giáo dục chuẩn quốc tế.
Khung trình độ quốc gia Việt Nam mới
Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu cũng đã ký Quyết định số 39 quy định về Khung trình độ quốc gia Việt Nam, có hiệu lực thi hành từ ngày 7.9.
Khung trình độ quốc gia Việt Nam gồm 8 bậc trình độ, được sắp xếp theo mức độ tăng dần về độ phức tạp của kiến thức, kỹ năng và mức độ tự chủ, trách nhiệm cá nhân nhằm hỗ trợ các cơ sở giáo dục ĐH, giáo dục nghề nghiệp xây dựng chuẩn đầu ra, làm cơ sở cho việc tham chiếu, công nhận và so sánh trình độ, văn bằng, chứng chỉ trong phạm vi quốc gia và quốc tế.
Theo đó, hoàn thành chương trình đào tạo nghề khác theo quy định của luật Giáo dục nghề nghiệp được xếp bậc 1 hoặc bậc cao hơn căn cứ trình độ đầu vào, khối lượng học tập và mức độ đáp ứng chuẩn đầu ra ở bậc trình độ tương ứng.
Tốt nghiệp chương trình đào tạo trình độ sơ cấp được xếp bậc 2, tốt nghiệp chương trình giáo dục trung học nghề được xếp bậc 3 hoặc bậc 4 căn cứ chuẩn đầu ra và khối lượng học tập tối thiểu của chương trình theo chuẩn chương trình đào tạo do Bộ GD-ĐT ban hành.
Tốt nghiệp chương trình đào tạo trình độ trung cấp được xếp bậc 4; tốt nghiệp chương trình đào tạo trình CĐ được xếp bậc 5; tốt nghiệp chương trình đào tạo trình độ ĐH (cấp bằng cử nhân) được xếp bậc 6; tốt nghiệp chương trình đào tạo chuyên sâu của giáo dục ĐH được xếp bậc 6 hoặc bậc cao hơn căn cứ trình độ đầu vào, khối lượng học tập và mức độ đáp ứng chuẩn đầu ra ở bậc trình độ tương ứng.
Trong khi đó, tốt nghiệp chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ (cấp bằng thạc sĩ) được xếp bậc 7; tốt nghiệp chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ (cấp bằng tiến sĩ) được xếp bậc 8.
Đặc biệt, Khung trình độ quốc gia Việt Nam mới bổ sung năng lực số và ứng dụng AI vào chuẩn đầu ra ở hầu hết các bậc trình độ (từ bậc 1 đến các bậc nâng cao). Người học ở các bậc này không chỉ yêu cầu đạt chuẩn về chuyên môn, ngoại ngữ mà còn phải đáp ứng yêu cầu về năng lực số thích ứng với bối cảnh công nghệ mới.
Nhà giáo nghỉ hưu vẫn được xét bổ nhiệm các chức danh, danh hiệu
Thông tư 59/2026/TT-BGDĐT của Bộ GD-ĐT có hiệu lực từ 1.9 lần đầu bổ sung cơ chế cho phép cơ sở giáo dục ký hợp đồng lao động toàn thời gian với nhà giáo nghỉ hưu nếu đáp ứng các điều kiện về chuyên môn, sức khỏe theo quy định.
Thông tư cũng tôn vinh và phát triển danh hiệu khi nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu vẫn được xem xét bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư; xét phong tặng các danh hiệu Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo Ưu tú và các danh hiệu thi đua khác khi đủ điều kiện.
Tuy nhiên, nhà giáo sau nghỉ hưu chỉ được ký hợp đồng toàn thời gian với một cơ sở giáo dục, đồng thời việc sử dụng lực lượng này không được làm ảnh hưởng đến kế hoạch phát triển đội ngũ kế cận hay thay thế điều kiện nhà giáo cơ hữu bắt buộc.
Khung pháp lý về khai thác tài nguyên giáo dục mở
Lần đầu tiên khung pháp lý về khai thác tài nguyên giáo dục mở trong giáo dục ĐH được quy định tại Thông tư 61/2026/TT-BGDĐT, có hiệu lực từ ngày 1.9.
Các định nghĩa chi tiết bao gồm giáo trình, bài giảng, tài liệu tham khảo, khóa học trực tuyến, học liệu đa phương tiện, dữ liệu học tập thuộc phạm vi công cộng hoặc được cấp giấy phép mở được nêu cụ thể.
Người dùng có các quyền cơ bản theo giấy phép mở như truy cập mở, giữ lại, sử dụng lại, sửa đổi, kết hợp lại và phân phối lại.
Việc xây dựng hạ tầng kết nối số quốc gia được quy định gồm thành lập hệ thống thông tin trực tuyến do Bộ GD-ĐT quản lý để kết nối, tích hợp và chia sẻ tài nguyên giáo dục mở từ các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước; các trường ĐH xây dựng hệ thống quản lý, lưu trữ riêng nhưng bắt buộc phải bảo đảm tính đồng bộ và liên thông với Cổng quốc gia.
Ngoài ra, thông tư cho phép đưa tài nguyên giáo dục mở vào học liệu chính thức và công nhận tín chỉ; quy định chặt chẽ về liêm chính học thuật, bản quyền và trí tuệ nhân tạo...
Theo Mỹ Quyên (TNO)