Nơi lưu giữ một bản nhạc lòng
Khu lưu niệm nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ và nhạc sĩ Cao Văn Lầu (tại khóm 30, P.Bạc Liêu, Cà Mau) rộng khoảng 12.500 m², gồm nhiều công trình như đài nguyệt cầm, đài phun nước nghệ thuật, tượng bán thân cố nhạc sĩ, nhà trưng bày, vườn tượng các loại nhạc cụ dân tộc, sân khấu biểu diễn đờn ca tài tử và khu mộ gia đình nhạc sĩ.
Theo chị Lê Hạnh Thư, thuyết minh viên khu lưu niệm, mỗi năm nơi đây đón hơn 40.000 lượt khách trong và ngoài nước. Một trong những điều để lại ấn tượng với du khách là bản chuẩn Dạ cổ hoài lang được trưng bày trang trọng cùng hình ảnh nhạc sĩ Cao Văn Lầu.
Trong không gian ấy, lịch sử của đờn ca tài tử được kể bằng nhiều hiện vật và biểu tượng. Vườn tượng các nhạc cụ dân tộc được chạm khắc bằng đá xanh, nổi bật là 4 nhạc cụ thường được nhắc đến trong dàn nhạc tài tử gồm đờn tranh, đờn kìm, đờn cò và đờn bầu.
Tại đài nguyệt cầm, hình tượng cây đờn kìm được cách điệu, xung quanh khắc tên 20 bản tổ của đờn ca tài tử. Đây cũng là không gian giúp người xem hình dung rõ hơn nền âm nhạc đã nuôi dưỡng tài năng của Cao Văn Lầu và tạo nên những tác phẩm có sức sống lâu bền.
Khu lưu niệm còn có khu mộ, nơi an nghỉ của vợ chồng cố nhạc sĩ cùng ông bà thân sinh của ông; nhà trưng bày thân thế, sự nghiệp Cao Văn Lầu và các nghệ nhân, nhạc sĩ, soạn giả tiêu biểu của cổ nhạc, cải lương Nam bộ.
Giữa nhiều công trình, hiện vật, câu chuyện về Dạ cổ hoài lang vẫn là điểm nhấn. Phía sau bản nhạc nổi tiếng ấy là một câu chuyện riêng tư, nhưng đã chạm đến cảm xúc của nhiều thế hệ người nghe.
Từ nỗi niềm riêng đến dấu son cổ nhạc
Cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu (22-12-1890 - 13-8-1976) sinh tại Long An cũ, theo gia đình về Bạc Liêu cũ từ nhỏ. Năm 1908, ông học đàn với nhạc sư Lê Tài Khí, tức Nhạc Khị. Sau này, ông trở thành một trong những nghệ nhân có đóng góp quan trọng cho đời sống đờn ca tài tử Nam bộ.
Năm 1915, Cao Văn Lầu kết hôn với bà Trần Thị Tấn. Sau khoảng 3 năm chung sống mà chưa có con, cuộc hôn nhân của họ chịu sức ép từ quan niệm phong kiến "tam niên vô tử bất thành thê". Hai người phải chia tay dù tình cảm vẫn còn sâu nặng. Tư liệu về Cao Văn Lầu tại khu lưu niệm ghi nhận chính nỗi thương nhớ người vợ đã trở thành nguồn cảm hứng để ông sáng tác Dạ cổ hoài lang (năm 1919).
Bản nhạc kể tâm trạng người vợ trong đêm nghe tiếng trống, nhớ người chồng đang ở nơi xa. Qua hình tượng ấy, Cao Văn Lầu cũng gửi vào từng câu ca nỗi lòng của chính mình trong những ngày xa cách.
Câu chuyện càng trở nên đẹp hơn ở đoạn sau. Khi vợ chồng Cao Văn Lầu chia tay, gia đình bên vợ vì thương con gái và biết hai người vẫn còn tình cảm nên tạo điều kiện để họ tiếp tục qua lại. Cuối cùng, Cao Văn Lầu và bà Trần Thị Tấn đoàn tụ. Hai người có với nhau 7 người con, gồm 5 trai và 2 gái.
Vì thế, câu hát "Trở lại gia đàng, cho én nhạn hiệp đôi" trong Dạ cổ hoài lang không chỉ là ước vọng của nhân vật trong bản nhạc. Với cuộc đời Cao Văn Lầu, đó cũng trở thành một sự trùng hợp đẹp đẽ: sau những tháng ngày xa cách, đôi vợ chồng đã trở về bên nhau.
Sức sống của Dạ cổ hoài lang không dừng lại ở câu chuyện tình của người sáng tác. Từ bản nhạc ban đầu, những biến đổi về nhịp điệu và cách trình diễn trong đời sống sân khấu đã góp phần hình thành, phát triển vọng cổ. Quá trình ấy đưa một sáng tác mang đậm tâm sự cá nhân trở thành một phần quan trọng của âm nhạc và sân khấu cải lương Nam bộ.
Khu lưu niệm hôm nay vì vậy không chỉ là nơi tưởng nhớ Cao Văn Lầu. Các không gian trưng bày, biểu diễn và hệ thống biểu tượng về nhạc cụ... còn giúp kể lại câu chuyện về dòng nghệ thuật đã gắn bó sâu sắc với đời sống tinh thần người dân Nam bộ.
Năm 2014, Khu lưu niệm nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ và nhạc sĩ Cao Văn Lầu được Bộ VH-TT-DL xếp hạng di tích quốc gia theo Quyết định số 962/QĐ-BVHTTDL. Trước đó, năm 2013, UNESCO ghi danh nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, khẳng định giá trị của một loại hình âm nhạc vừa có cội nguồn bác học, vừa gắn bó mật thiết với đời sống cộng đồng ở Nam bộ.
Hơn một thế kỷ đã trôi qua, Dạ cổ hoài lang vẫn được cất lên. Trong lời ca, tiếng đàn hôm nay, câu chuyện về một cuộc chia ly, về nỗi nhớ và ước mong "én nhạn hiệp đôi" vẫn còn đó. Từ một câu chuyện rất riêng, bản nhạc đã vượt khỏi giới hạn của thời gian để trở thành ký ức văn hóa của cả một vùng đất. (còn tiếp)
Theo Trần Thanh Phong (TNO)