Thân thế Đào Doãn Địch
Thủy tổ của Đào Doãn Địch là Đào Đại Lang, gốc ở thôn Đồng Hôn, xã Nhược Thạch, huyện Kỳ Ba, tỉnh Hà Tĩnh. Đời nhà Lê, ông di cư vào xứ Quảng Nam rồi vào ấp Tân Giản Thượng, thôn Hội An, huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn, tức là xứ Gò Bồi, thôn Tùng Giản, xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, nay là xã Tuy Phước Đông, tỉnh Gia Lai.
Họ Đào có nhà thờ tổ ở Tùng Giản, hiện nay có 3 chi phái: Họ Đào Phú Phong (Tây Sơn), họ Đào Kim Trì (Tuy Phước) và họ Đào Phú Thành (An Nhơn).
Đào Doãn Địch thuộc đời thứ 11, sinh năm Quý Tỵ (1833) tại Tùng Giản, Tuy Phước. Năm Mậu Dần - Tự Đức thứ 31 (1878), ông thi Hương tại trường Bình Định, đỗ Tú tài, bấy giờ đã 45 tuổi.
Theo thường lệ, đỗ Cử nhân rồi mới được bổ làm quan. Tuy nhiên, từ năm Tự Đức thứ 14 - Tân Dậu (1861), triều đình có định lệ sát hạch Tú tài 40 tuổi trở lên lấy đỗ bổ làm quan, hàm lúc sơ bổ là Chánh cửu phẩm, hàm cuối cùng của hạng này là Chánh ngũ phẩm. Từ ấy về sau thành lệ, tổ chức sát hạch tại Bộ Lễ khi nào triều đình xét thấy cần.
Tuy nhiên, Đào Doãn Địch trúng tuyển kỳ sát hạch năm nào? Được sơ bổ chức gì? Không thấy sử sách và gia phả ghi chép. Hiện nay, từ đường họ Đào phái Phú Mỹ, Phú Phong, Tây Sơn còn lưu giữ một đạo sắc của vua Hàm Nghi ghi nhận công trạng của Đào Doãn Địch, đề ngày 17 tháng 3, Hàm Nghi nguyên niên (1885) phong ông hàm Hồng lô tự Thiếu Khanh, phẩm Chánh ngũ, sung chức Kiểm biện quân doanh Kỳ Võ.
Hoạn lộ của ông khá hanh thông, chỉ trong 7 năm (sau khi đậu Tú tài) từ Chánh cửu phẩm lên Chánh ngũ phẩm với chức Kiểm biện quân doanh Kỳ Võ. Doanh/dinh là đơn vị lớn nhất trong quân đội lúc bấy giờ. Chức Kiểm biện ngoài kiểm tra đôn đốc tại quân doanh còn được quan Phụ chánh tin cẩn đặt cạnh viên tướng lãnh chỉ huy quân doanh để giám sát viên này.
Như vậy, Đào Doãn Địch tuy quan hàm văn giai nhưng giỏi về quân sự nên mới được giao làm lãnh đạo quân doanh Kỳ Võ - một đơn vị quân đội chính quy bảo vệ kinh thành Huế.
Văn võ toàn tài, yêu nước chân chính
Ngày 5-7-1885, kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi xuất bôn ra sơn phòng Tân Sở (Quảng Trị), ban chiếu Cần Vương, kêu gọi sĩ phu và nhân dân đứng lên chống Pháp.
Đào Doãn Địch - khi đó đang là Hồng lô tự Thiếu Khanh, phẩm Chánh ngũ, sung chức Kiểm biện quân doanh Kỳ Võ - được Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết, người cầm đầu phe chủ chiến trong triều đình, sai về Bình Định làm nhiệm vụ phổ biến chiếu Cần Vương, thăm dò tình hình địch và tổ chức lực lượng kháng chiến.
Trong một bài vè nói về phong trào Cần Vương ở Bình Định có câu “...Tú Địch về là do Thuyết sai vô...”. Thực tế cho thấy có lẽ khi về Bình Định, Đào Doãn Địch có thể mang theo tờ chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi và với sứ mệnh tổ chức kháng Pháp. Có như vậy, các quan tỉnh mới nộp thành và chịu mệnh điều khiển. Và vì thế mới có chuyện ông được đồng bào, quân dân địa phương bấy giờ tôn xưng là Tổng đốc Đào!
Về đến Bình Định, Đào Doãn Địch chiêu mộ 600 nghĩa binh, luyện tập võ nghệ, trang bị vũ khí (phần đông dùng giáo, sào, lưỡi mác) sẵn sàng chống Pháp xâm lược. Cùng với ông còn có các bạn đồng liêu ở Huế như: Bùi Điền, Phạm Thông... Nhiều nơi trong tỉnh xuất hiện những đội quân Ứng nghĩa Cần Vương, bao gồm binh lính ở địa phương (lính sơn phòng, lính đồn trú), dân binh do sĩ phu, văn thân lãnh đạo.
Tại tổng Phú Phong (ngày nay thuộc Tây Sơn), Mai Xuân Thưởng cùng anh em ruột Mai Xuân Khánh, Mai Xuân Quang và các Tú tài Mai Xuân Vân, Mai Xuân Hòa... mộ nghĩa dũng, lập căn cứ Hòn Sưng. Quan Kiểm lương Võ Đạt chuyển lương thực, vũ khí từ kho An Dũ (Hoài Nhơn) về Xuân Vinh tụ nghĩa. Cai cơ Tăng Doãn Văn (tức Tăng Bạt Hổ) dẫn một số quân đồn trú giữ cửa biển An Dũ về Kim Sơn (Hoài Ân) lập căn cứ chống Pháp.
Ở tỉnh Bình Định, Án sát Nguyễn Duy Cung được lệnh của Tổng đốc Lê Thận, cất binh ra tiếp ứng nghĩa hội Cần Vương tỉnh Quảng Ngãi... Nghĩa quân Cần Vương Bình Định chiếm thành Bình Định, ra Hịch kêu gọi nhân dân phối hợp chống Pháp truyền đi các tỉnh Nam Trung kỳ.
Các đạo quân từ thành Bình Định tỏa đi trấn giữ các nơi: “Nghĩa binh được chia làm ba đạo, một đạo (3.000 người) đi bảo/đồn An Khê; một đạo (3.000 người) đi trấn giữ An Dũ là nơi có nhiều tiền của và xung yếu trong tỉnh... Tiếp đó một đạo khác (2.000 người) đi vào tỉnh Phú Yên...”.
Bấy giờ, quân Pháp từ Quy Nhơn đánh lên nhằm chiếm tỉnh thành Bình Định. Đào Doãn Địch cùng Lê Tuyên (phó tướng) tổ chức nghĩa quân chặn đánh địch tại Cầu Đôi, sau rút về phục kích ở Trường Úc, rồi lui về chiến đấu tại Phong Niên (Phước Lộc). Nghĩa quân Cần Vương với vũ khí thô sơ đã chặn đánh quyết liệt thực dân Pháp, gồm một đại đội lính thủy đánh bộ và một cơ đội pháo binh.
Tháng 9-1885, sau khi bị thương trong một trận giao chiến với thực dân Pháp, Đào Doãn Địch cho rút quân lên vùng rừng núi phía Tây tổng Phú Phong để bảo toàn lực lượng. Nghe tin Đào Doãn Địch lên Tây Sơn, Mai Xuân Thưởng cùng các thủ lĩnh của mình đem lực lượng nghĩa dũng đến gia nhập. Mai Xuân Thưởng được Đào Doãn Địch phong chức Tán tương quân vụ phụ trách khâu hậu cần.
Chỉ ít lâu sau, thấy vết thương ngày càng trầm trọng, biết không thể qua khỏi, Đào Doãn Địch giao toàn bộ binh quyền cho Mai Xuân Thưởng. Mai Xuân Thưởng được nghĩa quân suy tôn Bình Tây Đại Nguyên soái, tiếp tục kháng chiến và đặt bản doanh tại Lộc Đỗng.
Cần tôn vinh xứng tầm
Sau khi giao binh quyền cho Mai Xuân Thưởng, sức khỏe của Đào Doãn Địch suy giảm rất nhanh. Theo nhà nghiên cứu Đặng Quí Địch, do bệnh tình thêm nguy kịch, ngày 20 tháng 9 năm Ất Dậu (1885), Đào Doãn Địch từ trần tại Chí Công (An Khê).
Thi hài ông được thuộc hạ và người nhà đưa về an táng gần Phú Phong thuộc xứ Hóc Già (nay thuộc xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai). Bấy giờ, ông mới 52 tuổi. Con cháu ông ở Phú Mỹ, Phú Phong lập thành phái thứ họ Đào, hằng năm giỗ ông tại từ đường phái này.
Đào Doãn Địch là một trong những nhân vật lịch sử chống Pháp tiêu biểu cuối thế kỷ XIX, ông cũng là người đầu tiên tổ chức lực lượng nghĩa binh hưởng ứng dụ Cần Vương và là thủ lĩnh đầu tiên của phong trào Cần Vương ở Bình Định. Chẳng những có lực hấp dẫn, thuyết phục các nhà khoa bảng quan lại lúc bấy giờ như quan Án sát Nguyễn Duy Cung (người Quảng Ngãi), quan Tư vụ Nguyễn Trọng Trì (người An Nhơn)... hăng hái theo nghĩa quân Cần Vương trung thành cho đến chết, mà ông còn có “huệ nhãn” nhận biết tâm huyết, tài năng và bản lĩnh của thanh niên Mai Xuân Thưởng, lúc đó mới 25 tuổi, vừa đỗ Cử nhân, chưa có tiếng tăm gì, mà giao tất cả tướng lĩnh binh quyền.
Và Mai Xuân Thưởng đã viết nên trang sử chống ngoại xâm vẻ vang cho dân tộc. Đào Doãn Địch xứng đáng được tôn vinh, kính ngưỡng.
Hiện nay, tên ông đã được đặt cho đường phố tại phường Quy Nhơn Nam (tỉnh Gia Lai), phường Thành Nhất (tỉnh Đắk Lắk), phường Hòa Minh (TP Đà Nẵng), phường An Hòa (TP Huế).
Nhằm tôn vinh công đức của nhà yêu nước đã anh dũng hy sinh trong phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX, đồng thời thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, khơi dậy lòng tự hào dân tộc cho các thế hệ hôm nay và mai sau, cần xếp hạng di tích lịch sử đền thờ và mộ của Đào Doãn Địch để có cơ sở pháp lý bảo tồn, đầu tư tôn tạo và phát huy giá trị di tích.