Ở vùng đất bazan này, mai rừng không chỉ là loài hoa báo hiệu mùa xuân về mà còn trở thành “của để dành” của người dân.
Chắt chiu sắc vàng từ nắng gió
Buổi sáng ở làng Mơ Nú (xã Gào) bắt đầu chậm rãi, như nhịp sống quen thuộc của bà con Jrai nơi đây. Nắng lên muộn, vương nhẹ trên mái nhà, rồi lan dần ra khu vườn bao quanh ngôi nhà nhỏ của gia đình ông Rah Lan Luih - bà Puih Dôt.
Xen giữa những gốc mai mọc tự nhiên là những cây được ươm trồng, nối tiếp nhau qua nhiều mùa mưa nắng, tạo nên một không gian yên ả, bền bỉ.
Bà Dôt chậm rãi kể: Mai rừng dễ sống, đến mùa hạt tự rụng xuống đất, gặp mưa là nảy mầm. Gia đình chỉ chọn khoảnh đất phù hợp để trồng lại, vừa giữ được mai, vừa không ảnh hưởng đến các loại cây khác. Ngoài hàng chục gốc quanh nhà, gia đình bà còn trồng xen hàng trăm cây mai trong rẫy cà phê cách đó không xa.
Mỗi độ Tết đến, những gốc mai lại mang về nguồn thu đáng kể, đủ để trang trải sinh hoạt và tiếp thêm động lực gắn bó với loài cây đã trở thành một phần đời sống buôn làng.
Rời Mơ Nú sang làng O Sơr, mai rừng tiếp tục kể câu chuyện mưu sinh bằng những dấu mốc rõ ràng hơn. Ông Puih Đer gắn bó với mai rừng từ năm 1990, vẫn nhớ như in những ngày đầu lặn lội vào rừng, mang từng gốc mai về trồng dọc hàng rào, xen giữa các lô cà phê. Theo thời gian, mai rừng tự sinh sôi, lớp cây này nối tiếp lớp cây khác, bền bỉ như vòng quay của đất trời.
Có thời điểm, vườn nhà và rẫy của gia đình ông Đer phủ kín hàng nghìn gốc mai. Bước ngoặt đến vào năm 2006, khi lần đầu bán mai, ông thu về 200 triệu đồng - số tiền không nhỏ với người làm rẫy lúc bấy giờ.
Khoảng năm 2021, thương lái từ TP. Đà Nẵng vào tận làng mua cả vườn với hàng trăm gốc, mang lại gần 800 triệu đồng. Từ những mùa mai ấy, ngôi nhà cũ dần lùi vào ký ức, nhường chỗ cho căn nhà khang trang giữa làng.
Ông Đer cho rằng, thị hiếu đã thay đổi. Trước kia, người mua chỉ chặt cành chưng Tết rồi bỏ. Nay khách chuộng mua cả gốc để chăm sóc lâu dài, nên giá trị mai rừng cũng theo đó tăng lên.
Hiện tại, gia đình ông còn khoảng 300-400 gốc mai phân bố quanh nhà và trên rẫy cách làng vài ki lô mét. “Cây nào kịp nở dịp Tết thì bán, không kịp thì giữ lại. Giờ thương lái vào tận vườn lựa chọn, mai rừng xã Gào đã có thương hiệu rồi!” - ông Đer nói, giọng đầy tự hào.
Ở một góc khác của làng O Sơr, anh Kpă Ký lại chọn cách gắn bó với mai rừng thận trọng hơn. Với anh, mai là nguồn thu bổ trợ, song hành cùng cây trồng chính là cà phê. “Bán gốc mai nào thì mình trồng lại gốc đó, không mở rộng diện tích bằng cách chặt bỏ cây cà phê” - anh chia sẻ.
Vườn nhà anh hiện có hơn 100 gốc mai đủ lứa tuổi, được chăm sóc đều đặn. Không tạo ra những vụ thu lớn, nhưng cách làm chậm rãi ấy giúp vườn mai luôn ổn định, để sắc vàng vẫn còn nguyên vẹn mỗi mùa xuân về.
“Của để dành” cho mùa Xuân no ấm
Không phải ngẫu nhiên xã Gào được gọi là “thủ phủ mai rừng”. Ở đây, mai hiện diện khắp các làng A, B, Thong Ngó, Thong Yố, Mơ Nú, O Sơr, Nhao 1, Nhao 2, Nang Long - O Sơr…
Theo thống kê sơ bộ, toàn xã có khoảng 3 ha mai với hàng trăm hộ trồng từ 30-40 gốc trở lên, tập trung nhiều nhất ở các làng Thong Ngó, Thong Yố, Mơ Nú và O Sơr.
Nhiều gia đình chỉ ước chừng chứ không nhớ chính xác số lượng mai mình đang sở hữu. Mỗi độ xuân về, các ngôi làng như khoác lên tấm áo mới, sắc vàng lan tỏa khắp không gian, tạo nên gam màu rất riêng của miền đất bazan.
Để có những vườn mai xanh tươi như hôm nay, người dân đã trải qua một quá trình thay đổi căn bản trong tư duy. Già làng Rơ Châm Her (làng Mơ Nú) nhớ lại: Trước kia, mai rừng mọc tự nhiên khắp nơi. Khi thương lái tìm mua ngày càng nhiều, mai trong rừng dần thưa.
Từ thực tế đó, bà con không chỉ khai thác mà chủ động ươm trồng, xem mai như “của để dành” - trồng để bán nhưng cũng để giữ cho làng, cho rẫy, cho con cháu mai sau.
Sự mộc mạc, dễ trồng, ít tốn công chăm sóc khiến mai rừng xã Gào ngày càng được ưa chuộng. Anh Lê Quang Nhân Trí - người từng sở hữu vườn nhỏ mai rừng ở thôn 2 (xã Chư Prông) cho rằng, mai cảnh thường có giá cao, sau Tết lại tốn chi phí chăm sóc.
Trong khi đó, mai rừng có giá vừa phải, phù hợp với nhiều gia đình. Người mua vài cành chưng Tết, người lại chọn những gốc phôi nhiều năm tuổi để ghép, tùy nhu cầu và sở thích.
Từ xã Gào, mai rừng theo chân người chơi mai về nhiều nơi. Anh Trương Quang Tuyến (làng Bak Kuao, xã Ia Tôr) cho biết: Năm ngoái, anh mua một gốc mai ở xã Gào về chơi Tết rồi trồng luôn trước sân nhà. Cây sinh trưởng tự nhiên, không cầu kỳ chăm bón nhưng vẫn giữ được dáng vẻ mộc mạc, gần gũi, mang đậm sắc xuân.
Theo Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Gào Rơ Châm Duih, từ loài cây mọc giữa rừng già, mai rừng đã trở thành cây trồng đặc trưng, gắn bó với đời sống cộng đồng.
Ban đầu, bà con trồng mai không nhằm mục đích kinh tế. Tuy nhiên, trước nhu cầu thị trường, mai vừa làm đẹp không gian sống, vừa mang lại nguồn thu nhập ổn định, giúp nhiều hộ, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, từng bước cải thiện đời sống.
Hướng đi lâu dài của địa phương là ươm trồng, bảo tồn gắn với khai thác hợp lý, tạo sinh kế bền vững.
Khác với mai cảnh phố thị, mai rừng xã Gào sinh trưởng giữa nắng gió Tây Nguyên, qua mùa nắng gắt rồi mưa dầm, lặng lẽ tích tụ nhựa sống để đến hẹn bung nở sắc vàng tươi, hương nhẹ mà bền.
Câu chuyện giữ mai hôm nay còn được tiếp nối bởi lớp trẻ. Sau Tết, nhiều đoàn viên, thanh niên chọn hạt mai chắc để ươm giống, trồng bù những gốc đã khai thác, giữ cho vườn mai không thưa vắng.
Xuân này, dù thời tiết lạnh sâu khiến mai nở muộn, song sắc vàng mai rừng nơi đây vẫn lặng lẽ kể câu chuyện về sự đổi thay trong nếp nghĩ, cách làm của người dân xã Gào, nơi “của để dành” đang góp phần dệt nên những mùa xuân no ấm, yên bình.