Tham dự cuộc họp có Tiến sĩ Nguyễn Thành Lam (Phòng Quản lý chất thải, Cục Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường), các nhà khoa học, chuyên gia trong lĩnh vực môi trường; đại diện các sở, ngành, địa phương của tỉnh; Chi cục Bảo vệ môi trường TP. Huế.
Dự án nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt Long Mỹ có quy mô khoảng 10 ha tại ô A5 và ô A6 thuộc Khu xử lý chất thải rắn Long Mỹ (phường Quy Nhơn Tây, tỉnh Gia Lai); công suất xử lý 500 tấn rác thải sinh hoạt mỗi ngày đêm, công suất phát điện 15 MW.
Phạm vi vùng thu gom của dự án tại 15 xã, phường: Quy Nhơn, Quy Nhơn Đông, Quy Nhơn Tây, Quy Nhơn Nam, Quy Nhơn Bắc, An Nhơn, Bình Định, An Nhơn Đông, An Nhơn Bắc, An Nhơn Nam, Tuy Phước, Tuy Phước Đông, Tuy Phước Tây, Tuy Phước Bắc và xã Canh Vinh.
Về lâu dài, dự án sẽ gia tăng khối lượng chất thải rắn sinh hoạt tiếp nhận theo nhu cầu thực tế và mở rộng phạm vi phục vụ phù hợp với Kế hoạch quản lý chất thải rắn tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026-2030 cùng các quy hoạch, kế hoạch có liên quan.
Tại cuộc họp, các chuyên gia đánh giá đây không chỉ là một dự án hạ tầng môi trường quy mô lớn, mà còn là công trình mang tính chiến lược, khẳng định quyết tâm của tỉnh Gia Lai trong ưu tiên xã hội hóa các dự án xử lý môi trường, hiện thực hóa chủ trương chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, bền vững và thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, để dự án bảo đảm tính khả thi và an toàn môi trường, hồ sơ dự án cần được tiếp tục hoàn thiện.
Một trong những điều kiện quyết định tính khả thi của dự án là nguồn rác đầu vào ổn định. Nhà đầu tư cần tính toán các kịch bản thiếu rác hoặc lượng rác vượt công suất thiết kế. Với mục tiêu phát điện 15 MW, hồ sơ cũng cần làm rõ sản lượng điện thực tế, điện tự dùng và sản lượng có thể phát lên lưới.
Bên cạnh đó, theo các chuyên gia, vấn đề trước hết là phải làm rõ sự phù hợp của công nghệ đốt với đặc tính rác tại khu vực. Nhà đầu tư cần bổ sung số liệu khảo sát về độ ẩm, nhiệt trị, thành phần hữu cơ, chất trơ và sự biến động của rác theo mùa.
Trên cơ sở đó, tính toán khả năng vận hành ổn định của lò đốt, nhu cầu sử dụng nhiên liệu hỗ trợ và làm rõ trong hồ sơ. Hiệu quả phát điện phải được tính toán trên cơ sở đặc tính rác thực tế, qua đó đánh giá đúng hiệu quả kinh tế của dự án.
Đối với nhà máy đốt rác, khí thải là vấn đề môi trường đặc biệt quan trọng. Thành viên Hội đồng thẩm định đề nghị làm rõ dây chuyền xử lý khí thải, khả năng kiểm soát bụi, NOx, CO, khí axit và các chất ô nhiễm đặc trưng trong quá trình đốt, nhất là dioxin/furan.
Đáng lưu ý, phương án kiểm soát phải tính cả các tình huống khởi động, dừng lò, mất điện hoặc sự cố hệ thống xử lý khí thải. Hệ thống quan trắc khí thải tự động, liên tục phải được thiết kế đồng bộ, có khả năng lưu trữ, truyền dữ liệu và cảnh báo khi thông số bất thường.
Bên cạnh đó, tro đáy, tro bay và chất thải từ hệ thống xử lý khí thải cần được phân loại, đánh giá tính chất và xác định phương án quản lý riêng. Nhà đầu tư phải chứng minh được phương án xử lý tro xỉ, phương án lưu trữ và xử lý tro bay, tránh phát sinh ô nhiễm thứ cấp.
Với công suất 500 tấn rác/ngày, các chuyên gia cũng yêu cầu làm rõ phương án thu gom, lưu chứa và xử lý nước rỉ rác trong cả mùa mưa và mùa khô. Khu vực tiếp nhận rác cần được kiểm soát kín, hạn chế phát tán mùi. Việc đánh giá tác động mùi cần tính đến điều kiện khí tượng và khu dân cư, công trình nhạy cảm xung quanh dự án.
Các chuyên gia nhấn mạnh: Mục tiêu của dự án không chỉ là xử lý 500 tấn rác/ngày hay phát 15 MW điện, mà quan trọng hơn là toàn bộ quá trình vận hành phải an toàn, không tạo ra rủi ro môi trường thứ cấp.
Do đó, nhà đầu tư cần tiếp thu đầy đủ ý kiến thẩm định, tiếp tục hoàn thiện hồ sơ theo hướng làm rõ công nghệ, thành phần và tính chất rác thải, khí thải, tro xỉ, nước thải, mùi và phương án ứng phó sự cố.
Nếu đáp ứng tốt các yêu cầu này, Nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt Long Mỹ sử dụng công nghệ đốt rác phát điện được kỳ vọng sẽ giải quyết căn cơ nhu cầu xử lý chất thải sinh hoạt của khu vực phía Đông tỉnh trong nhiều năm tới.
Cùng với đó sẽ tạo ra nguồn năng lượng sạch từ rác thải, giảm áp lực chôn lấp, tiết kiệm tài nguyên đất đai, tạo nguồn năng lượng tái tạo phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời, giảm phát thải, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên theo mô hình kinh tế tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu.