Ba tôi - một người con đất Bắc - sinh ra khi đất nước đang còn chiến tranh. Theo tiếng gọi của Tổ quốc, 18 tuổi, ba đã xung phong nhập ngũ để lên đường đánh giặc.
Ba bảo: Ngày ấy, ba bé nhỏ lắm, không đủ cân nặng để được đi bộ đội nên phải lén đeo thêm đá vào người mới được nhập ngũ. Vào quân ngũ tháng 12-1972, trải qua thời kỳ huấn luyện, đến tháng 3-1974, ba tôi được cầm súng ra chiến trường.
Ba cùng đồng đội hành quân dọc đường Trường Sơn để vào Nam tham gia Chiến dịch mùa Xuân năm 1975, trở thành Quân giải phóng miền Nam khi mới 20 tuổi. Khi ấy, ba chẳng nghĩ mình đang làm nên những điều lớn lao, chỉ nghĩ đơn giản rằng: Mình là người lính, đất nước cần thì mình đi.
Tháng 4-1975, ba vinh dự tham gia chiến đấu trong chiến dịch giải phóng các xã Mỹ Chánh, Mỹ Tài, Mỹ Cát, Cát Tài, Cát Minh (thuộc huyện Phù Mỹ và Phù Cát, tỉnh Bình Định cũ). Khi ấy, ba là chiến sĩ đặc công thuộc Tỉnh đội Bình Định, trực tiếp huấn luyện và chiến đấu tại Đại đội 10 đặc công.
1 năm ở chiến trường là 1 năm của những trận đánh mà chỉ cần nghe ba kể lại, tôi cũng cảm nhận được sự sống và cái chết đôi khi chỉ cách nhau trong gang tấc.
Theo lời ba kể, trận đánh khiến tôi nhớ nhất là vào 1 đêm cuối tháng 3 âm lịch. Sau bữa cơm chiều, ba cùng đồng đội chuẩn bị vũ khí và vật liệu ngụy trang. Mỗi người chỉ mặc 1 chiếc quần đùi, dùng 1 thứ hỗn hợp sền sệt được làm từ than giã nhỏ, trộn với nhớt rồi bôi kín lên mặt và cơ thể, biến mình thành những bóng đen giữa màn đêm.
Sau lễ tuyên thệ, ba cùng đồng đội xuống núi, tiến về phía căn cứ địch. Khoảng 22 giờ, đơn vị đã áp sát mục tiêu. Trong bóng tối, ba và đồng đội nghe rõ tiếng lính địch gọi nhau đổi gác, tiếng chân đi lại, tiếng soi đèn kiểm tra xung quanh. Mọi thứ đều căng như dây đàn.
Ba nằm trong tổ xung kích cùng 2 đồng đội, dưới sự chỉ huy của Chính trị viên Đại đội. Nhiệm vụ của ba là gỡ mìn, cắt hàng rào kẽm gai để mở đường cho đồng đội tiến vào.
Ba bò qua 2 lớp hàng rào. Đúng lúc ấy, giờ nổ súng bắt đầu. Đạn B40, B41 bất ngờ dội xuống căn cứ. Sau những phút choáng váng, địch bắt đầu phản công. Ba và đồng đội nằm sát hàng rào, giữa tiếng súng nổ dồn dập.
Một tên lính từ bên trong chạy ra, đạp lên lưng ba nhưng bị mắc vào hàng rào. Đồng đội của ba lập tức nổ súng. Địch phát hiện hướng tấn công và bắt đầu bắn xối xả, 1 đồng đội của ba bị thương.
Trong tình thế ấy, ba được giao nhiệm vụ tiếp tục bò vào bên trong. Người đồng đội còn lại ở ngoài làm nhiệm vụ yểm trợ. Nhờ trời tối và lớp ngụy trang kỹ, địch không phát hiện được ba. Ba ném 1 quả lựu đạn vào lô cốt. Sau tiếng nổ, ba tiếp tục bò vào sâu trong căn cứ. Ba nhặt được 2 khẩu súng của địch bỏ lại rồi men theo giao thông hào vào sâu bên trong.
Phía trước là 1 lô cốt lớn, đen ngòm. Ba nhìn thấy 1 xác địch nằm gần đó. Ba bò tới, ném bộc phá vào miệng lô cốt, rồi xoay người bò trở ra. Bộc phá phát nổ, ba ngã xuống.
Trong khoảnh khắc mơ hồ giữa tỉnh và mê, ba nghe tiếng đồng đội hét lên: “Thằng Dũng chết rồi!” Nhưng rồi ba tỉnh lại, ba vẫn còn sống, trận địa đã im tiếng súng và ba hét lên: “Vào đi! Thằng Dũng chưa chết đâu!”. Ba và đồng đội đã hoàn thành nhiệm vụ, chiếm được 2 lô cốt và tiêu diệt địch.
Mỗi lần nghe ba kể chuyện ở chiến trường, tôi thường nghĩ: Điều gì đã giúp những người lính mới 20 tuổi có thể bước qua nỗi sợ hãi của chính mình để tiến về phía trước? Có lẽ đó là tình yêu Tổ quốc, là tình đồng đội. Và cũng có thể, trong tâm khảm của những người lính năm ấy, chỉ có mong ước rất giản dị: Một ngày nào đó được sống trong hòa bình, được tự do đi trên chính quê hương mình.
Ba từng nói, niềm mơ ước lớn nhất của ba ngày ấy là được tự do chạy nhảy trên quốc lộ 1. Ước mơ nghe thật nhỏ bé nhưng để có được nó, biết bao người đã không thể trở về.
Những con đường mà hôm nay chúng ta đi lại hằng ngày, những chuyến xe xuôi ngược Bắc - Nam, những vùng đất bình yên mà chúng ta có thể tự do đặt chân đến... đã từng thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và xương máu của bao thế hệ.
Rồi ngày giải phóng Quy Nhơn cũng đến. Ba được tự do đi trên quốc lộ 1. Các má, các chị xứ nẫu nấu chè mang ra cho bộ đội ăn. Những người lính trở về trong vòng tay của nhân dân, có lẽ là một trong những khoảnh khắc hạnh phúc nhất của cuộc đời ba.
Sau hơn 50 năm, thật kỳ lạ khi vùng đất mà ba đã gửi lại một phần tuổi trẻ của mình lại trở thành nơi tôi bắt đầu một hành trình mới của cuộc đời.
Tôi, một người phụ nữ ngoài 40 tuổi, theo chủ trương sắp xếp, sáp nhập tỉnh, rời đại ngàn để về với biển xanh. Ngày đến đây, tôi chợt nhận ra mình đang bước vào một vùng đất mà ba từng chiến đấu để giành lại tự do. Tôi mang theo hành trang không chỉ là công việc, mà còn là những câu chuyện của ba.
Ba thường động viên tôi: “Ngày trước, ba đi đánh giặc, gian khổ như thế mà còn đi được. Bây giờ cuộc sống đủ đầy, ngại gì mà không đi. Đi để thấy đất nước mình nơi nào cũng đáng sống, nhà cửa, con cái để ba má trông nom giúp cho”.
Ngày ấy, tôi chỉ nghe ba như một lời động viên. Nhưng càng đi, tôi càng hiểu. Có lẽ, ba không chỉ muốn tôi đi đến vùng đất mới mà ông còn muốn tôi được tự do lựa chọn con đường mình đi, tự do sống, tự do làm việc, tự do theo đuổi điều mình yêu thích.
Và có lẽ, ở một nơi nào đó trong ký ức của ba, tôi đang viết tiếp giấc mơ mà ông từng ấp ủ khi còn rất trẻ: Được đi thật xa trên những con đường của đất nước mà ngày ấy ba và đồng đội đã phải chiến đấu mới có được.
Ba và tôi - 2 thế hệ. Ba đến với vùng đất này khi tuổi đời còn rất trẻ, với khẩu súng trên vai và 1 nhiệm vụ phải hoàn thành. Tôi đến đây khi đã ngoài 40, với hành trang là công việc, những trải nghiệm của cuộc sống và những câu chuyện ba kể.
Hoàn cảnh khác nhau, thời đại khác nhau nhưng chúng tôi có chung tình yêu đối với quê hương, đất nước và khát vọng được sống, được làm việc trên chính mảnh đất của Tổ quốc mình.
Tôi vẫn mong một ngày có thể đưa ba trở lại những nơi ông từng chiến đấu. Không chỉ trên quốc lộ 1 mà ở bất cứ nơi nào ba muốn đi. Để ba nhìn thấy những vùng đất năm xưa giờ đã đổi thay như thế nào. Để ba nhìn thấy những con đường mà ngày ấy ba từng mơ ước được tự do đi qua, hôm nay đã rộng dài, đông vui và bình yên ra sao.
Và để tôi có thể nói với ba rằng: “Ba ơi, giấc mơ ngày ấy của ba đã thành hiện thực”. Ba đã chiến đấu để có tự do. Còn thế hệ chúng con hôm nay có trách nhiệm sống sao cho xứng đáng với tự do ấy.
“Tự do” có lẽ là một trong những từ đẹp nhất mà con người từng biết đến. Nhưng tự do không tự nhiên mà có. Đằng sau 2 tiếng “tự do” là những năm tháng chiến tranh, là tuổi thanh xuân của những người lính, là những người mẹ chờ con, những người vợ chờ chồng, là những người đã nằm lại để đất nước được bình yên.
Hôm nay, chúng ta được tự do đi trên những con đường của quê hương, được tự do học tập, làm việc, yêu thương và theo đuổi những ước mơ của mình. Xin đừng bao giờ xem đó là điều hiển nhiên. Bởi phía sau sự bình yên của hôm nay là một câu chuyện rất dài của cha ông.
Và với tôi, câu chuyện về “Tự do” bắt đầu từ ba - người đã đi qua chiến tranh - để tôi được sống một cuộc đời bình yên, có thể tự do đi trên những con đường mà ngày xưa ba từng mơ ước. Và để hôm nay, khi đứng trước biển xanh, tôi hiểu rằng mình đang tiếp tục hành trình mà ba đã bắt đầu từ hơn nửa thế kỷ trước.
“Tự do” với tôi, không chỉ là giá trị mà còn là một món quà lớn được trao bằng tuổi trẻ, bằng máu xương của cha ông. Và chúng ta - những người đang nhận món quà ấy, phải biết trân trọng, gìn giữ và sống sao cho xứng đáng.