Mắc ca: Từ “kép phụ” trở thành cây trồng chủ lực

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

(GLO)- Huyện Kbang (tỉnh Gia Lai) có diện tích trồng mắc ca lớn nhất tỉnh với trên 2.000 ha, tập trung chủ yếu ở các xã: Sơ Pai, Sơn Lang, Đak Rong, Krong. Từ chỗ chỉ được trồng xen để chắn gió và cải thiện thu nhập, cây mắc ca đang phát huy giá trị, mang lại hiệu quả kinh tế cao và dần trở thành cây trồng chủ lực của địa phương.

Hiệu quả kinh tế cao

Thời điểm này, người trồng mắc ca ở xã Sơ Pai chuẩn bị bước vào vụ thu hoạch. Được cán bộ xã giới thiệu, chúng tôi ghé thăm vườn mắc ca 3 ha trồng thuần, trong đó có 2 ha đang cho thu hoạch của gia đình anh Lại Huy Hưng (thôn 4). Anh Hưng cho biết: Khoảng 6 năm trước, phong trào trồng mắc ca trên địa bàn phát triển mạnh. So với các loại cây khác, mắc ca tương đối dễ trồng, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu của địa phương. Trung bình mỗi năm chỉ cần bón phân 2-3 lần và tưới nước thường xuyên là đảm bảo. Quan trọng nhất là lúc mắc ca ra hoa (tháng 12), khoảng thời gian này nếu không có mưa, nhiệt độ duy trì ở mức 20-22 độ C thì cây sẽ phát triển tốt. Còn nếu nắng quá hoặc bị mưa, hoa mắc ca không đậu quả và bị thối. “Năm nay, vườn mắc ca của gia đình ít nhiều bị ảnh hưởng do thời điểm ra hoa bất ngờ xuất hiện cơn mưa khiến năng suất không đạt như kỳ vọng. Nếu thời tiết thuận lợi, dự kiến năng suất có thể đạt 5 tấn/ha, trừ chi phí, gia đình thu về hơn 300 triệu đồng/ha. Còn hiện tại, thu nhập của gia đình chỉ khoảng 130-150 triệu đồng/ha. Mức thu nhập này vẫn cao hơn nhiều so với các cây trồng khác”-anh Hưng nói.

Ông Thiều Viết Đoàn (thôn Thống Nhất, xã Sơn Lang) chăm sóc vườn cây mắc ca. Ảnh: Hà Phương

Ông Thiều Viết Đoàn (thôn Thống Nhất, xã Sơn Lang) chăm sóc vườn cây mắc ca. Ảnh: Hà Phương

Tại xã Sơ Pai, cà phê vẫn được xem là cây trồng chủ lực, còn mắc ca chủ yếu được trồng xen để vừa chắn gió, vừa tăng thêm thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, vài năm trở lại đây, cây mắc ca ngày càng cho hiệu quả kinh tế cao nên trở thành cây trồng chủ lực tại địa phương.

Gia đình chị Trần Thị Hòa (thôn 3, xã Sơ Pai) trồng 1 ha mắc ca xen cà phê. Chị cho hay: Việc trồng xen cây mắc ca và cà phê cho hiệu quả rất cao. Cụ thể, lượng nước tưới, phân bón từ gốc cà phê sẽ bổ sung dinh dưỡng cho cây mắc ca. Ngược lại, cây mắc ca sẽ chắn gió, tạo điều kiện cho cây cà phê ra hoa, đậu quả, nhất là ở vùng đồi cao. “Trước đây, diện tích trồng cà phê của gia đình thuộc đất lâm nghiệp. Sau đó, Nhà nước khuyến khích các hộ dân phủ xanh đất rừng, gia đình quyết định lựa chọn trồng cây mắc ca để tăng thu nhập. So với trồng keo, bời lời thì trồng mắc ca mang lại hiệu quả cao hơn nhiều”-chị Hòa chia sẻ.

Ông Võ Thanh-Chủ tịch UBND xã Sơ Pai-thông tin: Trên địa bàn có khoảng 590 ha cây mắc ca, chủ yếu trồng xen với cà phê. Xã Sơ Pai nói riêng và huyện Kbang nói chung có điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng rất phù hợp cho cây mắc ca phát triển. Từ năm 2012, huyện đã thí điểm trồng mắc ca ở xã Sơ Pai và mang lại hiệu quả rất rõ. Hiện ngoài cây cà phê được xem là chủ lực, mắc ca cũng cho giá trị kinh tế rất cao. Thậm chí, thời điểm hiện tại, giá trị kinh tế từ cây mắc ca cao hơn nhiều so với cây cà phê. Đối với những hộ trồng thuần cây mắc ca, trung bình mỗi năm thu nhập hơn 300 triệu đồng/ha là chuyện thường.

“Thủ phủ” mắc ca trong tương lai

Ông Đinh Văn Hdăn-Phó Chủ tịch UBND xã Sơn Lang-cho hay: Toàn xã hiện có trên 500 ha mắc ca, chủ yếu trồng xen với cà phê. Những năm gần đây, cây mắc ca cho giá trị kinh tế rất cao, giúp đời sống người dân thay đổi tích cực. Nhiều hộ dân cũng tìm cách sơ chế để nâng cao giá trị cho hạt mắc ca.

Gia đình ông Thiều Viết Đoàn-bà Nguyễn Thị Thủy (thôn Thống Nhất, xã Sơn Lang) không chỉ trồng mà còn đầu tư máy sấy, máy chẻ hạt, máy hút chân không để chế biến hạt mắc ca. Hiện các sản phẩm mắc ca do gia đình ông Đoàn chế biến được tiêu thụ ở TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Khánh Hòa… Ông Đoàn cho biết: Trong 2,5 ha mắc ca của gia đình thì 1,5 ha đã cho thu hoạch với năng suất trung bình 3,5-4 tấn/ha. So với cây cà phê thì trồng mắc ca có nhiều thuận lợi hơn, chi phí đầu tư chỉ tập trung vào năm đầu tiên và giảm dần theo từng năm. Giá bán ổn định 80-90 ngàn đồng/kg đối với sản phẩm tươi, còn qua chế biến thì lên đến 200 ngàn đồng/kg. “Chi phí đầu tư trồng cây mắc ca rất thấp, dễ chăm sóc, đến kỳ thu hoạch cũng không cần nhiều nhân công thu hái nhưng giá trị kinh tế mang lại rất cao”-ông Đoàn chia sẻ.

Gia đình bà Nguyễn Thị Thủy (thôn Thống Nhất, xã Sơn Lang) đầu tư máy móc để sơ chế, chế biến hạt mắc ca. Ảnh: Ngọc Sang

Gia đình bà Nguyễn Thị Thủy (thôn Thống Nhất, xã Sơn Lang) đầu tư máy móc để sơ chế, chế biến hạt mắc ca. Ảnh: Ngọc Sang

Ngày 3-7-2023, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 1671/KH-UBND triển khai thực hiện Đề án phát triển bền vững mắc ca giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Theo kế hoạch, cây mắc ca được phát triển chủ yếu tại của huyện Kbang; đồng thời, tiếp tục mở rộng diện tích tại các vùng có điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp của các huyện: Đak Đoa, Mang Yang, Chư Păh; tiếp tục theo dõi, đánh giá diện tích đã trồng tại các huyện Chư Prông, Chư Sê và Ia Grai để bổ sung vào kế hoạch đến năm 2050. Tỉnh phấn đấu tổng diện tích trồng mắc ca đến năm 2030 đạt 4.045 ha. Đến năm 2050, phấn đấu duy trì diện tích mắc ca trên địa bàn tỉnh đạt khoảng 6.660 ha.

Cũng theo ông Đoàn, ở huyện Kbang hiện có 2 loại giống mắc ca, một loại thời điểm ra hoa vào cuối năm, một loại ra hoa vào đầu năm. Thời gian này, ở huyện Kbang khí hậu tương đối lạnh nhưng không mưa nên hoa mắc ca nở đẹp, dễ đậu quả hơn các vùng khác. Còn nếu gặp phải trời mưa, hoa bị thối dẫn đến không có quả, xem như mùa vụ thất bại. Hiện tại, vườn mắc ca của gia đình trồng xen với cây cà phê. Khi bón phân cho cà phê thì cây mắc ca cũng dễ dàng hấp thụ dinh dưỡng. Bên cạnh đó, cây mắc ca cũng chịu hạn rất tốt, ít phải sử dụng thuốc trừ sâu.

Trao đổi với P.V, ông Mã Văn Tình-Trưởng phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Kbang-cho biết: Cây mắc ca được trồng thí điểm ở huyện Kbang từ năm 2010, sau đó từng bước được nhân rộng. Nếu như năm 2015, toàn huyện chỉ có khoảng 100 ha mắc ca thì đến nay đã tăng lên hơn 2.000 ha. Thực tế, cây mắc ca rất phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng vùng đất Kbang, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân.

Cũng theo ông Tình, định hướng đến năm 2030, huyện Kbang sẽ mở rộng diện tích mắc ca lên 3.000 ha. Nhằm hiện thực hóa điều này, từ năm 2018, huyện đã có những chính sách hỗ trợ cho hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số trồng xen cây mắc ca để tăng thêm thu nhập. Ngoài ra, huyện cũng phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ hoàn tất các thủ tục đăng ký nhãn hiệu chứng nhận thương hiệu “Mắc ca Kbang-Gia Lai”.

“Huyện Kbang hiện có 3 sản phẩm mắc ca đạt chứng nhận OCOP và gần 20 cơ sở chế biến. Tuy nhiên, do chưa có nhà máy chế biến sâu nên chúng tôi đang kêu gọi các tổ chức, doanh nghiệp vào đầu tư để phát triển vùng nguyên liệu, nâng tầm thương hiệu mắc ca của địa phương”-ông Tình thông tin.

Có thể bạn quan tâm

Nông dân thi đua làm giàu, phát triển nông thôn

Nông dân thi đua làm giàu, phát triển nông thôn

(GLO)- Chiều 22-10, tại phường Quy Nhơn Nam, Hội Nông dân tỉnh Gia Lai tổ chức Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện phong trào “Nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững” giai đoạn 2022-2026.

Kết quả nghiên cứu phải tạo ra giá trị thực tiễn

Kết quả nghiên cứu phải tạo ra giá trị thực tiễn

(GLO)- Tròn 20 năm gắn bó với nghề nghiên cứu, chọn tạo và chuyển giao giống cây trồng, Thạc sĩ Trương Thị Thuận - Phó phụ trách Bộ môn Cây đậu đỗ (Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung Bộ, phường Quy Nhơn Bắc) đã góp phần đưa nhiều giống cây trồng mới vào sản xuất.

Gia Lai có 75.088 hộ sản xuất, kinh doanh giỏi

Gia Lai có 75.088 hộ sản xuất, kinh doanh giỏi

(GLO)- Đến cuối năm 2025, tỉnh Gia Lai có 75.088 hộ đạt danh hiệu nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi các cấp, tăng 6.957 hộ so với giai đoạn 2017-2022. Trong đó, có 74.306 hộ đạt danh hiệu nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi cấp cơ sở, 706 hộ cấp tỉnh và 76 hộ cấp trung ương.

Triển vọng mô hình nuôi cá tầm ở “ốc đảo” Kon Pne

Triển vọng mô hình nuôi cá tầm ở "ốc đảo" Kon Pne

(GLO)- Làng Kon Pne (xã Đak Rong) từng được xem là “ốc đảo” bởi địa hình cách trở, giao thông khó khăn, song lại có lợi thế khí hậu mát mẻ, nguồn nước tự nhiên dồi dào, phù hợp để nuôi cá tầm. Năm 2023, Công ty TNHH một thành viên Yến Hiền Gia Lai đầu tư mô hình nuôi cá tầm tại đây.

Gia Lai: Quản chặt tàu cá, đẩy nhanh tiến độ giải bản

Gia Lai: Quản chặt tàu cá, đẩy nhanh tiến độ giải bản

(GLO)- Trước yêu cầu xử lý dứt điểm các tồn tại trong hoạt động chống khai thác IUU để chuẩn bị làm việc với Ủy ban châu Âu (EC) trong tháng 11-2026, tỉnh Gia Lai đang tăng cường giám sát tàu cá không đủ điều kiện hoạt động, đồng thời tháo gỡ vướng mắc về thủ tục để đẩy nhanh tiến độ giải bản.

gia-lai-xu-ly-dut-diem-ton-tai-chong-khai-thac-IUU

Gia Lai: Xử lý dứt điểm tồn tại trong chống khai thác IUU

(GLO)- Phó Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai Dương Mah Tiệp vừa ký ban hành Văn bản số 12699/UBND-NNMT yêu cầu các sở, ngành, lực lượng và địa phương liên quan khẩn trương khắc phục những tồn tại trong đợt cao điểm chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).

Liên kết sản xuất giúp cà phê Bờ Ngoong vươn xa

Liên kết sản xuất giúp cà phê Bờ Ngoong vươn xa

(GLO)- Từ những rẫy cà phê sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, người dân xã Bờ Ngoong (tỉnh Gia Lai) đang thay đổi cách làm bằng việc liên kết vào hợp tác xã (HTX), sản xuất theo quy trình bền vững, xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn và kết nối với doanh nghiệp để nâng tầm giá trị cà phê địa phương.

Nâng cao giá trị ngành hàng chanh dây

Gia Lai đầu tư nâng cao giá trị ngành hàng chanh dây

(GLO)- Gia Lai có khoảng 5.500 ha chanh dây, sản lượng khoảng 210 nghìn tấn/năm. Từ quả chanh dây tươi, nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã đã tạo ra nhiều sản phẩm như dịch cấp đông, nước ép cô đặc, tinh cốt..., qua đó mở rộng đầu ra, nâng giá trị và giảm áp lực tiêu thụ trong mùa thu hoạch.

2,5 triệu ha rừng keo và nghịch lý bán nguyên liệu giá rẻ

2,5 triệu ha rừng keo và nghịch lý bán nguyên liệu giá rẻ

(GLO)- Việt Nam hiện có khoảng 2,5 triệu ha rừng keo, chiếm phần lớn diện tích rừng keo của thế giới. Thế nhưng khoảng 80% sản lượng gỗ keo vẫn được đưa vào sản xuất dăm gỗ và viên nén, đặt ra bài toán chuyển từ bán nguyên liệu giá trị thấp sang chế biến sâu, tạo giá trị cao hơn.

null