Cửa biển An Dũ qua Di sản Mộc bản Triều Nguyễn

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
 

Cửa biển An Dũ nằm ở phường Hoài Hương, TX Hoài Nhơn, là nơi duy nhất mà sông Lại Giang hướng ra biển cả mênh mông. Từ thời nhà Nguyễn, cửa biển An Dũ đã giữ vị trí quan trọng cả về kinh tế và an ninh quốc phòng.

Theo Mộc bản Triều Nguyễn, sách Đại Nam nhất thống chí, quyển 9, mặt khắc 30 ghi về cửa biển (tấn) An Dũ như sau: “Cửa biển An Dũ ở phía Đông huyện Bồng Sơn, cát bồi ở cửa biển lên xuống thất thường, khi thủy triều lên sâu 5 thước, 6 tấc; thủy triều xuống sâu 2 thước, 4 tấc...”.

Cửa biển An Dũ. Ảnh: HUỲNH THÀNH

Cửa biển An Dũ. Ảnh: HUỲNH THÀNH

Cửa biển An Dũ là nơi xảy ra nhiều trận đánh lớn nhỏ giữa nhà Nguyễn Tây Sơn với nhà Nguyễn Gia Miêu. Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ, quyển 6, mặt khắc 24 ghi chép về trận đánh lớn, quyết liệt xảy ra vào năm Nhâm Tý (1792), như sau: “Mùa thu, tháng 7, vua thân đốc binh thuyền tiến đến cửa biển An Dũ. Sai bọn Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Văn Nhân, Nguyễn Đức Thiện chia quân làm ba đạo tiến đánh trường ván Lệ Dương, bọn giặc vỡ chạy, quân ta bắt được 30 chiếc thuyền biển mới đóng, còn thuyền sai, thuyền chiến cùng gỗ ván thì đốt cháy hết”.

2 năm sau, tức năm Giáp Dần (1794), hai bên lại tiếp tục đánh nhau tại đây: “Tháng 6, sai Nguyễn Văn Trương và Nguyễn Văn Nhân đem binh thuyền đánh giặc ở cửa biển An Dũ, cướp được hơn 10 chiếc thuyền lương, thừa thắng tiến thẳng đến cửa biển Đại Cổ Lũy (thuộc tỉnh Quảng Ngãi), đánh kho Phú Đăng. Tiết độ giặc là Nguyễn Văn Giáp thua chạy, (quân ta) vét hết lương thực rồi trở về”.

Sau khi đánh thắng nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi lấy hiệu là Gia Long. Ngay sau đó, vào tháng 5, năm Nhâm Tuất (1802), vua Gia Long đã sai Tham luận Nguyễn Văn Thịnh và Cai hợp Võ Xuân Lý đến trông coi các cửa biển Kim Bồng, An Dũ và Hà Ra. Năm Giáp Tý (1864), khi tỉnh Bình Định tâu việc ở 4 đồn cửa biển là Thi Nại, Đề Gi, Kim Bồng và An Dũ, giặc thường lén lút nổi lên, vua Tự Đức đã sức cho các xã thôn đoàn kết dân dõng, mỗi đồn tùy nơi gồm 30 - 40 - 50 dân binh, miễn tạp dịch và chiểu cấp cho khí giới đồ binh để đi tuần phòng, răn đe giặc.

Ở cửa biển An Dũ có ngôi đền Thịnh Xuân (tên gọi khác là đền Tam thần, đền Tứ Dương) nổi tiếng linh thiêng, các thuyền bè đi lại nơi đây thường tới cầu đảo mong ra khơi được thuận buồm xuôi gió. Mộc bản sách Đại Nam nhất thống chí, quyển 9 có ghi về ngôi đền này như sau: “Đền thần Thịnh Xuân: Nằm ở thôn Thịnh Xuân, huyện Bồng Sơn. Thờ 3 vị thần: Một là Tứ Dương thành phủ quân, hai là Đà Dương phủ quân, ba là Thế Tử nhạc phủ quân. Sự tích đến đây chưa khảo được. Tương truyền đều là người tử tiết, sau khi chết hiển linh. Đền thờ ở gần cửa biển An Dũ, bãi cát hai bên thường bồi lấp, khi có thuyền vận tải, cầu đảo thì cửa lạch liền được rộng sâu...”.

Theo Mộc bản sách Đại Nam nhất thống chí, thì mỗi lần gặp kỳ vận tải, cửa biển thường bị cạn, quan địa phương đến đền cầu đảo, sáng hôm sau liền thấy mở ra cửa biển mới, thuyền lớn, thuyền nhỏ ra vào rất thuận tiện, sau vài ba ngày lại bồi lấp như cũ. Việc cầu đảo linh nghiệm như thế nên bấy giờ, đền thần Thịnh Xuân nổi tiếng linh ứng khắp cả nước, đặc biệt là đối với dân đi biển.

Mộc bản sách Đại Nam nhất thống chí, quyển 9, mặt khắc 30 ghi chép về cửa biển An Dũ ở huyện Bồng Sơn, Bình Định. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV

Mộc bản sách Đại Nam nhất thống chí, quyển 9, mặt khắc 30 ghi chép về cửa biển An Dũ ở huyện Bồng Sơn, Bình Định. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV

Năm Canh Dần (1830), niên hiệu Minh Mạng thứ 11, vua đã sai người đến đây cầu khấn và định lệ hằng năm đều thực hiện việc này. Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 65, mặt khắc 16 ghi rằng: “Cửa biển An Dũ ở Bình Định có đền Tứ Dương có tiếng linh thiêng, gặp kỳ vận tải cửa biển bị cát bồi, rồi lại thông, thuyền vận tải qua được. Tỉnh thần cho là có thần phù hộ, xin sửa lễ tam sinh để tạ. Vua y cho!”.

Trải nhiều thăng trầm của lịch sử, cùng với sự biến đổi của tự nhiên và thời tiết, cửa biển An Dũ đã dần dịch chuyển, bồi lấp, ảnh hưởng đến cuộc sống của ngư dân, việc làm sao để giữ ổn định cửa biển này hiện được các nhà khoa học nghiên cứu tìm ra giải pháp khắc phục bền vững.

CAO THỊ QUANG

Có thể bạn quan tâm

Tiếp sức cho nghệ thuật truyền thống

Tiếp sức cho nghệ thuật truyền thống

(GLO)- Nghị quyết số 19/2026/NQ-HĐND được HĐND tỉnh Gia Lai thông qua ngày 24-4-2026 (có hiệu lực từ ngày 4-5-2026) với nhiều chính sách hỗ trợ cụ thể cho nghệ thuật truyền thống, được kỳ vọng tạo thêm động lực cho đội ngũ nghệ sĩ, nghệ nhân, các đoàn nghệ thuật hiện có và gầy dựng lực lượng kế cận.

Thơ Phan Trung Lý: Nhớ Quy Nhơn

Thơ Phan Trung Lý: Nhớ Quy Nhơn

(GLO)- “Nhớ Quy Nhơn” của Phan Trung Lý là dòng hoài niệm đầy cảm xúc về miền biển thi vị với sóng biển, Ghềnh Ráng, dốc Mộng Cầm và dấu xưa Hàn Mặc Tử. Bài thơ gợi lên vẻ đẹp dịu dàng, sâu lắng của Quy Nhơn - nơi cảnh sắc và thi ca như hòa vào nhau trong nỗi nhớ khôn nguôi.

Chạm vào bình yên nơi quê Bác

Chạm vào bình yên nơi quê Bác

(GLO)- Mười hai năm làm dâu xứ Nghệ, tôi không nhớ mình đã bao lần đi qua xã Kim Liên để về nhà chồng. Chỉ biết rằng, mỗi lần ngang qua biển chỉ dẫn vào Khu di tích lịch sử Kim Liên, lòng tôi lại khẽ reo lên như thấy một dấu mốc đặc biệt: “Về đến quê Bác rồi…”. 

Theo dòng di sản qua ảnh

Theo dòng di sản qua ảnh

(GLO)- Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026), hưởng ứng Ngày Quốc tế Bảo tàng (18-5) và Năm Du lịch Quốc gia 2026, Bảo tàng tỉnh Gia Lai và Bảo tàng Quang Trung đã tổ chức trưng bày ảnh chuyên đề.

Thơ Phạm Thanh Dũng: Thăm vườn tượng suối Hội Phú

Thơ Phạm Thanh Dũng: Thăm vườn tượng suối Hội Phú

(GLO)- Giữa không gian xanh mát của suối Hội Phú, những tác phẩm điêu khắc mang đậm hơi thở Tây Nguyên như đang kể câu chuyện về con người, văn hóa và nhịp sống đại ngàn. Bài thơ “Thăm vườn tượng suối Hội Phú” là hành trình cảm xúc đầy chất thơ giữa nghệ thuật và thiên nhiên phố núi.

Những đóa hoa lòng

Những đóa hoa lòng

(GLO)- Khi nghĩ đến những dòng chữ ấy, tôi không có ý định đặt một tựa đề ẩn dụ cho tín niệm nào cả. Chỉ là, những ngày tháng 5 bắt đầu oi ả cứ thôi thúc tôi nhớ về khu vườn nhỏ xanh mát ở quê nhà. Dẫu gần hay xa, hiện hữu trong không gian hay ký ức vẫn thấp thoáng trong tôi những đóa hoa lòng.

null