Hoàn thiện chính sách nhà ở cho người dân vùng khó khăn
Tham gia thảo luận, đại biểu (ĐB) Trường Trung Tuyến cơ bản thống nhất với sự cần thiết sửa đổi Luật Nhà ở năm 2023, đồng thời đồng tình với định hướng chuyển chính sách nhà ở từ tư duy chủ yếu giải quyết vấn đề sở hữu sang bảo đảm quyền tiếp cận chỗ ở ổn định, an toàn, phù hợp khả năng chi trả của người dân.
Từ thực tiễn công tác tại cơ sở, nhất là các xã miền núi, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, ĐB Tuyến đánh giá cao dự thảo đã quy định tương đối cụ thể chính sách hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo ở nông thôn, vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu.
Tuy nhiên, đại biểu đề nghị không chỉ xác định đối tượng hỗ trợ theo chuẩn nghèo mà cần tính đến mức độ thiếu hụt thực tế về nhà ở. Những hộ vừa thoát nghèo, hộ đông người, có người cao tuổi, người khuyết tật hoặc sống tại vùng thường xuyên chịu thiên tai có thể có nhu cầu cấp thiết về chỗ ở.
Bên cạnh đó, mức hỗ trợ cần tính đến chênh lệch chi phí xây dựng giữa các vùng. Tại các xã miền núi, xa trung tâm, chi phí vận chuyển vật liệu, nhân công, san nền thường cao hơn. Nếu áp dụng một định mức hỗ trợ bình quân, có nơi đủ điều kiện xây dựng nhưng có nơi người dân vẫn không đủ khả năng đối ứng.
ĐB Trường Trung Tuyến cũng đề nghị cụ thể hóa hơn yêu cầu nhà ở phải phù hợp với văn hóa, phong tục, tập quán và phương thức sinh hoạt của từng dân tộc, tránh tình trạng một mẫu nhà được áp dụng đồng loạt cho nhiều địa bàn.
Theo đó, đại biểu đề nghị Trung ương quy định tiêu chuẩn an toàn và mức hỗ trợ tối thiểu; đồng thời trao quyền cho địa phương điều chỉnh thiết kế, vật liệu, mức hỗ trợ bổ sung và cách thức tổ chức thực hiện phù hợp với điều kiện từng vùng.
Về chính sách nhà ở công vụ, ĐB Trường Trung Tuyến cho rằng cần quan tâm hơn đến cán bộ, công chức, viên chức công tác lâu dài tại xã miền núi, vùng sâu, vùng xa và địa bàn đặc biệt khó khăn.
Theo đại biểu, sau sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, yêu cầu về chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã ngày càng cao. Trong khi đó, tại nhiều địa bàn miền núi, cán bộ, công chức phải công tác xa gia đình, điều kiện thuê nhà và sinh hoạt còn khó khăn. Nếu chỉ quan tâm bố trí biên chế mà chưa chú trọng điều kiện ăn ở thì sẽ khó thu hút, giữ chân cán bộ có năng lực lâu dài tại cơ sở.
ĐB Tuyến đánh giá cao quy định miễn tiền thuê nhà ở công vụ đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động được điều động, luân chuyển, biệt phái đến công tác tại các địa bàn đặc biệt khó khăn. Tuy nhiên, miễn tiền thuê chỉ có ý nghĩa khi thực tế có nhà để thuê.
Do đó, đại biểu đề nghị chính sách cần giải quyết cả vấn đề nguồn cung nhà ở công vụ. Địa phương có thể linh hoạt sử dụng nhà, đất công dôi dư sau sắp xếp, cải tạo trụ sở hoặc công trình phù hợp, thuê nhà ở thương mại hoặc xây dựng cụm nhà công vụ dùng chung cho một số xã.
Đồng thời, cần nghiên cứu mở rộng chính sách đối với cán bộ được tuyển dụng, bố trí làm việc ổn định tại địa bàn đặc biệt khó khăn, thay vì chỉ áp dụng với trường hợp điều động, luân chuyển, biệt phái.
Trên cơ sở phân tích trên, ĐB Trường Trung Tuyến nhấn mạnh: Khi sửa Luật Nhà ở, đối với khu vực nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, chính sách không thể chỉ tính bằng số căn nhà được xây dựng mà phải tính bằng khả năng người dân thực sự có được chỗ ở an toàn, ổn định, phù hợp với văn hóa, điều kiện sống và khả năng kinh tế.
Đồng thời, chính sách nhà ở công vụ cần được xem là một bộ phận của chính sách thu hút, giữ chân và nâng cao chất lượng cán bộ ở cơ sở.
Chính sách nhà ở cần tầm nhìn dài hạn
Tham gia thảo luận, ĐB Trần Kim Kha cho rằng dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi) cần tiếp tục đổi mới cách thức thực hiện chính sách theo hướng thuận lợi hơn cho người dân, bao quát đầy đủ các nhóm đối tượng và có tầm nhìn dài hạn.
Về xác định đối tượng và điều kiện hưởng chính sách nhà ở xã hội, đại biểu cho rằng quy định tại dự thảo vẫn chủ yếu theo phương thức truyền thống, khi người dân phải tự chuẩn bị hồ sơ, đi xin xác nhận tại nhiều cơ quan trước khi được xem xét, phê duyệt.
Trong khi đó, nhiều thông tin để xác định một người có đủ điều kiện hưởng chính sách nhà ở xã hội đã được Nhà nước quản lý trên các cơ sở dữ liệu. Thông tin về nhân thân, cư trú, quan hệ gia đình có trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; thông tin về quyền sở hữu nhà, đất được quản lý trong cơ sở dữ liệu đất đai; thông tin về thu nhập có thể được đối soát qua dữ liệu thuế, bảo hiểm xã hội và các nguồn dữ liệu liên quan.
Vì vậy, ĐB Kha đề nghị bổ sung nguyên tắc vào Điều 61 theo hướng việc xác định đối tượng, điều kiện hưởng chính sách nhà ở xã hội chủ yếu được thực hiện thông qua kết nối, chia sẻ và đối soát dữ liệu giữa hệ thống thông tin về nhà ở với cơ sở dữ liệu dân cư, đất đai, thuế và bảo hiểm xã hội.
Theo đó, người dân chỉ cần kê khai và chịu trách nhiệm về nội dung kê khai; cơ quan nhà nước có trách nhiệm chủ động xác minh thông tin trên các cơ sở dữ liệu.
Đại biểu cho rằng cách tiếp cận này không chỉ áp dụng trong Luật Nhà ở mà cần được nghiên cứu áp dụng rộng rãi trong xây dựng các chính sách khác, theo nguyên tắc cơ quan Nhà nước không yêu cầu người dân chứng minh lại những thông tin mà Nhà nước đã có trong các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Đối với chính sách nhà ở cho nhân lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đại biểu đánh giá dự thảo đã quan tâm đến nhà khoa học, chuyên gia, nhân tài và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
Tuy nhiên, phạm vi chính sách hiện vẫn chủ yếu gắn với khu vực nhà nước, trong khi một lực lượng lớn trực tiếp nghiên cứu, ứng dụng và thương mại hóa công nghệ đang làm việc tại khu vực ngoài nhà nước.
Do đó, ĐB Kha đề nghị bổ sung vào nhóm đối tượng hưởng chính sách nhà ở xã hội là chuyên gia, nhà khoa học, kỹ sư và người lao động có trình độ chuyên môn cao đang làm việc tại doanh nghiệp, tổ chức khoa học và công nghệ, cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo thuộc các lĩnh vực ưu tiên.
Theo đại biểu, khi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực quan trọng của phát triển, chính sách nhà ở cũng cần bao quát lực lượng đang trực tiếp tạo ra những giá trị này. “Muốn giữ chân nhân tài, trước hết phải giúp họ có một nơi để ở và yên tâm cống hiến”, đại biểu nhấn mạnh.
Về nghĩa vụ tài chính khi xây dựng lại nhà chung cư hết thời hạn sử dụng, theo điểm b khoản 5 Điều 91 dự thảo luật, chủ sở hữu phải đóng góp kinh phí xây dựng lại nhà chung cư, được tính theo diện tích căn hộ và suất đầu tư xây dựng mới tại thời điểm phá dỡ. Trường hợp không đóng góp thì chủ sở hữu chỉ được bồi thường giá trị quyền sử dụng đất theo tỷ lệ và phải bàn giao lại đất.
Về nguyên tắc tài sản, quy định này có cơ sở. Tuy nhiên, ĐB Kha đề nghị xem xét vấn đề trong một chu kỳ dài hơn, khoảng 30 - 40 năm tới.
Theo ĐB Kha, nhiều nhà chung cư được xây dựng từ những năm 2000 sẽ lần lượt bước vào giai đoạn kiểm định, phá dỡ, xây dựng lại trong những thập niên tới. Khi đó, không ít chủ sở hữu hiện nay có thể đã cao tuổi, nghỉ hưu, sống bằng lương hưu hoặc nguồn thu nhập hạn chế. Trong khi đó, căn hộ chung cư lại là tài sản lớn, thậm chí là tài sản duy nhất của nhiều gia đình.
Nếu chỉ đến khi chung cư phải phá dỡ mới yêu cầu người dân đóng khoản kinh phí lớn để xây dựng căn hộ mới, nhiều chủ sở hữu có thể không đủ khả năng tài chính. Điều này có thể dẫn đến khó đạt đồng thuận, kéo dài việc xây dựng lại, trong khi người dân tiếp tục phải sống trong công trình xuống cấp hoặc buộc phải rời nơi ở.
Vì vậy, ĐB Kha đề nghị dự thảo nghiên cứu đa dạng phương thức thực hiện nghĩa vụ tài chính để người dân lựa chọn phù hợp với khả năng, như đóng một lần hoặc theo tiến độ dự án; trả dần trong thời gian dài và thế chấp bằng chính căn hộ mới; nhận căn hộ có diện tích nhỏ hơn tương ứng với phần giá trị đã có; hoặc chuyển sang hình thức thuê, thuê mua tại chính dự án được xây dựng lại.
“Nhà ở xã hội phải được xét duyệt đúng đối tượng bằng dữ liệu, không phải bằng những tập hồ sơ xin xác nhận. Chính sách an cư cho nhân lực khoa học, công nghệ phải bao quát cả khu vực công và khu vực tư. Cơ chế xây dựng lại chung cư phải được chuẩn bị nguồn lực từ sớm, không để nghĩa vụ tài chính phát sinh đột ngột khi người dân đã cao tuổi” - ĐB Kha nhấn mạnh.
Hoàn thiện chính sách nhà ở, ưu tiên người dân vùng khó khăn
Phát biểu giải trình, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết: Sau khi tiếp thu ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cùng các đại biểu Quốc hội, Chính phủ đã hoàn thiện hồ sơ định hướng chính sách sửa đổi Luật Nhà ở năm 2023 và trình Quốc hội.
Đối với những băn khoăn về nhà chung cư có thời hạn, nhà chung cư xuống cấp, tranh chấp và việc sửa chữa các chung cư được xây dựng trước và sau năm 1994, Bộ trưởng cho biết những nội dung này đã được Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng giải trình tại phiên thảo luận tổ.
Theo Bộ trưởng, các vấn đề được xem xét trên cơ sở chính trị, pháp lý, thực tiễn và điều kiện bảo đảm để người dân có nơi ở tốt nhất; đồng thời có phương án xử lý khi công trình hết thời hạn sử dụng hoặc không còn bảo đảm an toàn.
Về thiết kế mẫu, Bộ trưởng Trần Hồng Minh cho biết: Thực hiện Nghị quyết 57, Trung tâm Đổi mới sáng tạo của Bộ Xây dựng đã tích hợp hơn 2.000 mẫu thiết kế nhà ở. Các mẫu này có thể được lựa chọn, điều chỉnh phù hợp với điều kiện từng vùng, từng địa phương.
Tuy nhiên, Bộ trưởng lưu ý, khi triển khai thực tế, chủ đầu tư và đơn vị tư vấn phải nghiên cứu kỹ điều kiện địa chất công trình để lựa chọn giải pháp móng phù hợp, bảo đảm ổn định công trình.
Đối với phần kết cấu thân công trình, các yếu tố như tải trọng gió, tải trọng động, hoạt tải sử dụng và tải trọng tĩnh của dầm, cột, sàn đều đã được tính toán trong thiết kế. Việc có sẵn các mẫu thiết kế sẽ giúp địa phương thuận lợi hơn trong quá trình triển khai cả về kiến trúc và kết cấu.
Về nhà ở cho đồng bào dân tộc thiểu số có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, Bộ trưởng Trần Hồng Minh khẳng định: Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, triển khai thông qua các chương trình mục tiêu và các chính sách hỗ trợ nhà ở.
Đặc biệt, trong năm 2024, cả nước đã phát động chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát cho người dân. Tuy nhiên, một trong những khó khăn hiện nay là vấn đề đất ở tại nhiều khu vực miền núi.
Theo Bộ trưởng, một bộ phận người dân đang sinh sống trên đất rừng, đất ruộng, đất nương, đất rẫy nhưng chưa có đất ở được xác lập phù hợp để xây dựng nhà. Đây là vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu trong quá trình sửa đổi chính sách đất đai, qua đó tạo điều kiện để người dân có đất ở ổn định, bảo đảm điều kiện thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở.
Bộ trưởng Trần Hồng Minh nhấn mạnh: Mục tiêu xuyên suốt của việc sửa đổi Luật Nhà ở là tiếp tục hoàn thiện chính sách, tháo gỡ các điểm nghẽn trong triển khai, tăng nguồn cung nhà ở và bảo đảm các nhóm đối tượng có nhu cầu thực sự được tiếp cận chỗ ở phù hợp.