Sở Xây dựng cho hay, đến cuối năm 2025, tỷ lệ dân số đô thị được cấp nước sạch từ hệ thống tập trung đạt 74,2%, song mức độ tiếp cận còn phân hóa rõ giữa các khu vực.
Nút thắt từ hạ tầng đến tập quán
Ở các phường trung tâm, đô thị phát triển, tỷ lệ sử dụng nước sạch đạt mức cao, tiệm cận 100% như Quy Nhơn, Quy Nhơn Đông, Quy Nhơn Nam, Quy Nhơn Bắc, Quy Nhơn Tây, Pleiku, An Nhơn Bắc, An Nhơn Đông, Hoài Nhơn Đông, Diên Hồng, Ayun Pa… Trong khi đó, tại nhiều địa bàn khác, tỷ lệ này chỉ dao động từ hơn 9 - 50% như các phường An Phú, An Nhơn, Hội Phú, An Bình…
Theo Phó Giám đốc Sở Xây dựng Lý Tấn Toàn, kết quả này vẫn còn cách khá xa mục tiêu 95% theo Quyết định số 450/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Quyết định số 861/QĐ-BXD của Bộ Xây dựng về Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2021 - 2025.
Nguyên nhân chủ yếu là do nhiều phường mới được hình thành từ các xã trước đây - nơi hệ thống cấp nước tập trung chưa được đầu tư hoặc tỷ lệ người dân sử dụng còn rất thấp.
Bên cạnh đó, bài toán hạ tầng cũng đặt ra không ít thách thức. Tại khu vực trung tâm, hệ thống đường ống đã được đầu tư đồng bộ nên việc đấu nối thuận lợi. Ngược lại, ở các khu vực ven đô, dân cư phân tán, chi phí đầu tư đường ống lớn nhưng sản lượng tiêu thụ thấp, khiến hiệu quả kinh tế của các dự án cấp nước chưa cao.
Toàn tỉnh hiện có 25 phường được cung cấp nước sạch từ 18 nhà máy cấp nước tập trung. Tổng công suất thiết kế đạt 190.280 m³/ngày đêm, song công suất khai thác thực tế mới đạt 121.424 m³/ngày đêm (63,8%). Điều này cho thấy dư địa mở rộng đấu nối còn lớn, nhưng không dễ hiện thực hóa nếu không tháo gỡ đồng thời các nút thắt về hạ tầng và nhu cầu sử dụng.
Ở một khía cạnh khác, việc sử dụng nước sạch còn phụ thuộc đáng kể vào nhận thức và thói quen của người dân. Tại phường An Phú - nơi tỷ lệ sử dụng nước sạch dưới 9%, phần lớn hộ dân vẫn duy trì thói quen dùng nước giếng đào, giếng khoan. Trong khi đó, chi phí đấu nối nước máy không cao, từ vài trăm nghìn đến vài triệu đồng; giá nước dao động từ 7.136 - 11.596 đồng/m³.
Thực tế cho thấy, dù hạ tầng đã sẵn sàng, việc chuyển đổi vẫn chậm nếu người dân chưa nhận thức rõ lợi ích lâu dài, vì vậy công tác vận động trở thành “chìa khóa”. Ông Lê Đăng Nguyên - Bí thư Chi bộ tổ dân phố 1 (phường Thống Nhất) - cho biết: Sau khi được giải thích rõ về lợi ích của nước sạch đối với sức khỏe, gần 100% trong tổng số 425 hộ dân tại tổ dân phố 1 đã chuyển sang sử dụng nước từ hệ thống cấp nước tập trung. Điều này cho thấy, đầu tư hạ tầng phải đi cùng thay đổi nhận thức, nếu không, chỉ tiêu khó có thể cải thiện bền vững.
Tăng tốc theo lộ trình: Gắn trách nhiệm, siết tiến độ
Theo kế hoạch của UBND tỉnh triển khai ngày 11-3, trong năm 2026, tỉnh đặt mục tiêu nâng tỷ lệ dân số đô thị được cung cấp nước sạch qua hệ thống tập trung lên 75,9%. Đây là chỉ tiêu quan trọng, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, ngành.
Sở Xây dựng được giao vai trò đầu mối, hướng dẫn các địa phương xây dựng kế hoạch thực hiện theo từng quý, phù hợp với điều kiện thực tế; đồng thời, cập nhật số liệu định kỳ trên hệ thống dữ liệu của tỉnh để phục vụ công tác theo dõi, đánh giá.
Theo ông Lý Tấn Toàn, yêu cầu xuyên suốt là triển khai theo lộ trình cụ thể, không mang tính phong trào, bám sát từng khu dân cư. Việc quản lý bằng dữ liệu giúp kiểm soát tiến độ, hạn chế nguy cơ “vỡ kế hoạch”, đồng thời nâng cao tính minh bạch trong điều hành. Tỉnh cũng tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền thông qua “Sổ tay hướng dẫn đấu nối và sử dụng nước sạch tiết kiệm, an toàn, hiệu quả”; triển khai lập Đề án phát triển cấp nước tỉnh Gia Lai. Nhiều khu vực tiếp tục được rà soát, xây dựng phương án cấp nước, trong đó có các khu vực thuộc địa bàn TP. Quy Nhơn (cũ) và các khu dân cư chưa được phục vụ đầy đủ.
Các công trình cấp nước cũng được đôn đốc triển khai theo hướng mở rộng mạng lưới, cải tạo, nâng cấp hệ thống hiện có, ưu tiên khu vực ven đô - nơi tỷ lệ tiếp cận còn thấp. Mục tiêu là đưa nước sạch đến từng khu dân cư, từng hộ dân, thay vì chỉ dừng ở phạm vi tuyến ống chính.
Trong bài toán nâng tỷ lệ sử dụng nước sạch, DN cấp nước giữ vai trò trực tiếp trong đầu tư, vận hành và mở rộng mạng lưới. Công ty CP Cấp thoát nước Gia Lai hiện cung cấp nước tại nhiều phường với tỷ lệ khác nhau: Pleiku đạt 81,5%, Diên Hồng 73,5%, Thống Nhất 63,5%, Hội Phú 50%, An Phú gần 10% và Ayun Pa 98%.
Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh - Tổng Giám đốc Công ty CP Cấp thoát nước Gia Lai, cho biết trong quý II/2026 đơn vị sẽ khởi công các dự án mở rộng mạng lưới cấp nước sạch tập trung tại các phường An Phú, Thống Nhất, Hội Phú; đồng thời rà soát các tuyến hẻm cần đầu tư bổ sung, phối hợp chính quyền địa phương vận động người dân đấu nối.
Ở cấp cơ sở, các địa phương cũng chủ động vào cuộc. Tại phường Hội Phú - nơi tỷ lệ sử dụng nước sạch khoảng 50%, Chủ tịch UBND phường Vũ Mạnh Định cho hay chính quyền đã phối hợp với DN mở rộng hệ thống đến 75 tuyến đường, đồng thời tiếp tục rà soát để đưa nước sạch đến từng hộ dân.
Cách làm này cho thấy sự chuyển động đồng bộ giữa quản lý nhà nước, DN, địa phương. Khi trách nhiệm được phân công rõ ràng, lộ trình được cụ thể hóa và dữ liệu được cập nhật sát thực tế, mục tiêu nâng tỷ lệ sử dụng nước sạch trở nên khả thi hơn.