Mức chuẩn 540.000 đồng/tháng là căn cứ để xác định mức trợ cấp xã hội hằng tháng, mức hỗ trợ kinh phí nhận chăm sóc, nuôi dưỡng và một số khoản trợ giúp xã hội khác.
Theo Nghị định 335/2026/NĐ-CP, trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng được áp dụng đối với 8 nhóm đối tượng. Mức trợ cấp được tính bằng 540.000 đồng nhân với hệ số tương ứng.
Căn cứ vào hệ số, mức trợ cấp hằng tháng có thể là:
| Hệ số | Mức trợ cấp |
| 1,0 | 540.000 đồng |
| 1,5 | 810.000 đồng |
| 2,0 | 1,08 triệu đồng |
| 2,5 | 1,35 triệu đồng |
| 3,0 | 1,62 triệu đồng |
1. Trẻ em dưới 16 tuổi có hoàn cảnh đặc biệt
Nhóm này gồm trẻ em bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi; trẻ có cha mẹ đã chết hoặc không xác định được; cha hoặc mẹ mất, mất tích; cha mẹ đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội hoặc đang chấp hành án phạt tù, quyết định xử lý vi phạm hành chính tại các cơ sở theo quy định.
- Trẻ dưới 4 tuổi: hệ số 2,5, tương đương 1,35 triệu đồng/tháng.
- Trẻ từ đủ 4 tuổi trở lên: hệ số 1,5, tương đương 810.000 đồng/tháng.
2. Người từ 16 tuổi trở lên thuộc nhóm trên nhưng vẫn đang đi học
Người thuộc diện nêu trên đang hưởng trợ cấp, khi đủ 16 tuổi nhưng tiếp tục học giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp hoặc đại học văn bằng thứ nhất và quá trình học liên tục thì tiếp tục được hưởng trợ cấp đến khi kết thúc học.
Mức hưởng: hệ số 1,5, tương đương 810.000 đồng/tháng.
3. Trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo
- Trẻ dưới 4 tuổi: hệ số 2,5, tương đương 1,35 triệu đồng/tháng.
- Trẻ từ đủ 4 tuổi đến dưới 16 tuổi: hệ số 2, tương đương 1,08 triệu đồng/tháng.
4. Người đơn thân nghèo nuôi con
Đối tượng là người thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo, chưa có chồng hoặc vợ; hoặc đã có nhưng chồng, vợ đã chết hoặc mất tích và đang nuôi con dưới 16 tuổi.
Mức trợ cấp được tính theo hệ số 1,0 đối với mỗi người con đang nuôi, tương đương 540.000 đồng/tháng cho mỗi con.
Nếu người con đã đủ 16 tuổi nhưng tiếp tục học theo các chương trình được quy định và quá trình học không bị gián đoạn, người đơn thân vẫn tiếp tục được hưởng cho đến khi con kết thúc học.
5. Người cao tuổi thuộc diện khó khăn
Nghị định quy định trợ cấp đối với người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc người phụng dưỡng đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng.
- Từ đủ 60 đến dưới 75 tuổi: hệ số 1,5, tương đương 810.000 đồng/tháng.
- Từ đủ 75 tuổi trở lên: hệ số 2, tương đương 1,08 triệu đồng/tháng.
Ngoài ra, người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống tại cộng đồng, đủ điều kiện vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng được hưởng hệ số 3, tương đương 1,62 triệu đồng/tháng.
6. Người khuyết tật nặng, đặc biệt nặng
Mức trợ cấp được xác định theo mức độ khuyết tật và độ tuổi:
- Người khuyết tật đặc biệt nặng: hệ số 2, tương đương 1,08 triệu đồng/tháng.
- Trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người cao tuổi là người khuyết tật đặc biệt nặng: hệ số 2,5, tương đương 1,35 triệu đồng/tháng.
- Người khuyết tật nặng: hệ số 1,5, tương đương 810.000 đồng/tháng.
- Trẻ em khuyết tật nặng hoặc người cao tuổi là người khuyết tật nặng: hệ số 2, tương đương 1,08 triệu đồng/tháng.
7. Trẻ dưới 3 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo ở địa bàn đặc biệt khó khăn
Trẻ dưới 3 tuổi thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo, không thuộc các nhóm đối tượng khác được quy định tại Nghị định và đang sinh sống tại các xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn được hưởng trợ cấp.
Mức hưởng: hệ số 1,5, tương đương 810.000 đồng/tháng.
8. Người nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo
Người nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo, không có tiền lương, tiền công, lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng được hưởng:
Hệ số 1,5 = 810.000 đồng/tháng.
Trường hợp một người đồng thời thuộc nhiều diện được hưởng trợ cấp với các hệ số khác nhau thì chỉ được hưởng một mức cao nhất. Riêng người đơn thân nghèo nuôi con đồng thời thuộc một số nhóm như người cao tuổi, người khuyết tật hoặc người nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo thì được hưởng đồng thời chế độ dành cho người đơn thân nuôi con và chế độ tương ứng của nhóm còn lại.
Nghị định 335/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 5-10-2026. Tuy nhiên, đối với người đang hưởng chính sách theo Nghị định 20/2021/NĐ-CP và Nghị định 176/2025/NĐ-CP, mức hưởng được chuyển sang mức tương ứng theo quy định mới từ ngày 1-7-2026.
Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm rà soát danh sách người đang hưởng chính sách và quyết định chi trả theo mức mới kể từ ngày 1-7-2026.
Nghị định cũng cho phép địa phương, nếu bảo đảm điều kiện kinh tế - xã hội, trình HĐND cùng cấp quyết định mức chuẩn trợ giúp xã hội và mức trợ giúp cao hơn mức quy định chung; đồng thời có thể quy định thêm đối tượng khó khăn khác được hưởng chính sách trợ giúp xã hội.