Cùng với việc thu hút các dự án carbon, tỉnh Gia Lai đang tập trung hoàn thiện dữ liệu, hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định và cơ chế chia sẻ lợi ích để đưa giá trị carbon từ tiềm năng thành nguồn thu thực tế.
Rừng lớn, nhiều dư địa
Theo công bố hiện trạng rừng năm 2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Gia Lai có hơn 1,03 triệu ha đất có rừng, trong đó, trên 692 nghìn ha rừng tự nhiên. Quy mô và hệ sinh thái rừng đa dạng tạo dư địa lớn để phát triển các dự án hấp thụ, lưu giữ carbon và giảm phát thải.
Theo TS. Lại Thanh Hải - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Lâm sinh (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam), Gia Lai có điều kiện trở thành một trong những địa phương cung ứng tín chỉ carbon rừng đáng kể của cả nước. Lợi thế của Gia Lai không chỉ nằm ở diện tích rừng mà còn ở khả năng phát triển lâm nghiệp đa mục tiêu.
Bảo vệ rừng tự nhiên có thể kết hợp với phát triển rừng gỗ lớn, lâm sản ngoài gỗ, dược liệu dưới tán rừng, du lịch sinh thái và phục hồi hệ sinh thái. Qua đó, vừa nâng cao giá trị kinh tế của rừng, vừa tăng khả năng hấp thụ, lưu giữ carbon.
Nghị định số 180/2026/NĐ-CP ngày 21-5-2026 của Chính phủ về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng tạo thêm cơ sở pháp lý để chủ rừng, doanh nghiệp và địa phương triển khai dự án, kết nối với các tổ chức tài chính khí hậu và đối tác trong, ngoài nước.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, một số doanh nghiệp đã đề xuất khảo sát, thu thập dữ liệu, xây dựng hồ sơ dự án tín chỉ carbon từ rừng tự nhiên, rừng trồng và các mô hình rừng gỗ lớn.
Ông Nguyễn Văn Hoan - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường - cho biết: Giai đoạn 2026-2030, tỉnh dự kiến trồng mới và trồng lại khoảng 125 nghìn ha rừng. Việc kéo dài chu kỳ sản xuất, phát triển rừng gỗ lớn không chỉ nâng giá trị gỗ mà còn tăng sinh khối, khả năng hấp thụ và lưu giữ carbon.
Không gian phát triển carbon còn gắn với Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cao nguyên Kon Hà Nừng rộng hơn 413.511 ha, mở ra hướng kết hợp bảo tồn đa dạng sinh học với dịch vụ môi trường rừng và kinh tế xanh.
Theo Chi cục Kiểm lâm (Sở Nông nghiệp và Môi trường), nếu tính khả năng hấp thụ trung bình khoảng 5 tấn CO2/ha/năm, diện tích rừng của Gia Lai có thể hấp thụ khoảng 4,9 triệu tấn CO2 mỗi năm. Với mức giá tham khảo 10 USD/tấn, giá trị lý thuyết có thể lên tới hàng chục triệu USD mỗi năm.
Tuy nhiên, đây mới là tiềm năng. Để tạo ra tín chỉ có giá trị giao dịch, tỉnh phải chứng minh được lượng carbon hấp thụ bằng hệ thống dữ liệu và phương pháp đo đạc, xác minh chặt chẽ.
Biến tiềm năng thành nguồn lực
Theo các chuyên gia, diện tích rừng lớn chưa đồng nghĩa với khả năng lập tức tạo nguồn thu từ carbon. Tín chỉ phải đáp ứng các yêu cầu về tính bổ sung, tính lâu dài, hạn chế rò rỉ carbon và được đo đạc, xác minh minh bạch.
TS. Lại Thanh Hải cho rằng: Gia Lai cần sớm hoàn thiện dữ liệu rừng, xây dựng đường cơ sở phát thải và thiết lập hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV) đạt chuẩn.
“Để tham gia hiệu quả, ngành lâm nghiệp và các chủ rừng cần khẩn trương hoàn thiện dữ liệu rừng, xây dựng đường cơ sở phát thải, thiết lập hệ thống MRV đạt chuẩn quốc tế” - TS. Hải nhấn mạnh.
Đây cũng là những vấn đề được Sở Nông nghiệp và Môi trường đặt ra khi xây dựng Đề án tổng thể phát triển thị trường tín chỉ carbon trên địa bàn tỉnh.
Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh tại Văn bản số 7336/UBND-NNMT ngày 3-6-2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã chủ trì xây dựng Đề án, phối hợp với các sở, ngành và đơn vị chuyên môn nghiên cứu từng lĩnh vực.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, dữ liệu phục vụ thị trường carbon hiện còn phân tán, chưa được kiểm chứng đồng bộ; hệ thống MRV và phương thức giao dịch tín chỉ carbon cũng cần tiếp tục hoàn thiện.
Vì vậy, Đề án cần được chuẩn hóa dữ liệu, tham vấn chuyên gia và các tổ chức có uy tín để bảo đảm tính khả thi, hướng tới những dự án cụ thể thay vì chỉ dừng ở việc xác định tiềm năng.
Theo các chuyên gia, bên cạnh dữ liệu và MRV, chia sẻ lợi ích từ carbon là yếu tố quyết định tính bền vững của thị trường. Phần lớn diện tích rừng nằm ở vùng sâu, vùng xa, nơi người dân còn phụ thuộc vào tài nguyên rừng. Do đó, nguồn thu carbon cần được phân bổ minh bạch, gắn với sinh kế và trách nhiệm bảo vệ rừng.
Theo hướng này, tỉnh cần đẩy mạnh giao đất, giao rừng, tăng vai trò cộng đồng và khuyến khích phát triển dược liệu, lâm sản ngoài gỗ, du lịch sinh thái dưới tán rừng. Khi rừng tạo ra nhiều giá trị, trong đó có giá trị carbon, người dân sẽ có thêm lợi ích và động lực giữ rừng lâu dài.