Chi phí logistics cao làm mất sức cạnh tranh của nông sản Việt

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

Ngày 9.7, Hiệp hội Nông nghiệp số Việt Nam (VIDA) tổ chức hội thảo trực tuyến về chủ đề: giải pháp cắt giảm chi phí logistics nhằm tối ưu chuỗi giá trị nông sản Việt.

Sản phẩm gạo hiện có chi phí logistics cao nhất với 29,8% giá thành sản xuất Ảnh: Gia Khiêm
Sản phẩm gạo hiện có chi phí logistics cao nhất với 29,8% giá thành sản xuất. Ảnh: Gia Khiêm

Tại hội thảo, ông Nguyễn Duy Minh, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics VN (VLA), cho rằng nông sản đang phải gánh chi phí logistics ở mức cao nên rất khó cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của nước khác. Theo khảo sát của VLA, chi phí logistics của sản phẩm hải sản thấp nhất cũng chiếm 12,1% giá thành sản xuất; rau quả chiếm tới 29,5%; sản phẩm gạo hiện có chi phí logistics cao nhất với 29,8% giá thành sản xuất.


Ông Lê Văn Quang, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Tập đoàn Minh Phú, bày tỏ chi phí vận chuyển nội địa quá cao đang là rào cản lớn nhất đối với các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu nông sản. Ông Quang dẫn chứng, cung đường vận chuyển nông sản từ TP.HCM đi các cửa khẩu phía bắc để xuất khẩu đi qua quá nhiều trạm thu phí cũng góp phần đẩy giá lên cao, đây là điều hết sức vô lý. “Một container tôm từ TP.HCM đến biên giới Trung Quốc mất 100 triệu đồng, trong khi đó Ecuador cũng vận chuyển sang Trung Quốc nhưng chi phí chỉ bằng một nửa”, ông Quang nói.

Còn ông Lê Đức Huy, Phó tổng giám đốc Công ty TNHH MTV xuất nhập khẩu 2.9 (Đắk Lắk), nhìn nhận các doanh nghiệp mua nguyên liệu qua nhiều khâu trung gian cũng là nguyên nhân đẩy chi phí logistics lên quá cao. Trong ngành cà phê, doanh nghiệp của ông Huy hiện chỉ mua trực tiếp được 30% sản lượng cà phê, còn lại 70% phải mua qua trung gian. Theo tính toán, chi phí logistics cà phê từ nông dân cho đến nhà sản xuất và ra cảng TP.HCM hiện nay là 15 USD/tấn, cao gấp đôi chi phí vận chuyển hàng từ TP.HCM đi Nhật Bản chỉ có 7,5 USD/tấn.

Ông Nguyễn Duy Minh cho rằng để tháo gỡ điểm nghẽn chi phí logistics trong tiêu thụ và xuất khẩu nông sản thì cần thiết phải hình thành các trung tâm logistics hiện đại. Hiện nay, Chính phủ đã nhìn rõ vai trò của ngành dịch vụ logistics nên về thể chế đã có nhiều quyết định cũng như kế hoạch hành động quốc gia liên quan đến phát triển ngành này.

 

Theo Hoàng Phan (thanhnien)

Có thể bạn quan tâm

Giữ màu xanh cho đất, giữ sinh kế cho người dân

Giữ màu xanh cho đất, giữ sinh kế cho người dân

(GLO)- Không chờ đến khi những vùng đất màu mỡ mất dần khả năng canh tác, Gia Lai đang chủ động triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm bảo vệ tài nguyên đất, phục hồi hệ sinh thái và xây dựng nền nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu.

Nông dân Ia Grai liên kết để sản xuất cà phê bền vững

Nông dân Ia Grai liên kết để sản xuất cà phê bền vững

(GLO)- Xã Ia Grai (tỉnh Gia Lai) hiện có 4.242 ha cà phê. Thay vì sản xuất theo hướng nhỏ lẻ như trước đây, những năm qua, người dân từng bước tham gia các tổ liên kết, áp dụng quy trình canh tác bền vững theo tiêu chuẩn 4C và liên kết với doanh nghiệp trong sản xuất để nâng giá trị cà phê.

Dự án hồ chứa nước Ia Prat: Người dân đồng thuận, công trình tăng tốc

Dự án hồ chứa nước Ia Prat: Người dân đồng thuận, công trình tăng tốc

(GLO)- Sự đồng thuận của người dân trong công tác giải phóng mặt bằng đã tạo điều kiện để dự án hồ chứa nước Ia Prat (xã Ia Khươl) chính thức triển khai thi công. Công trình góp phần bảo đảm nguồn nước tưới, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.

Chuẩn hóa vùng nguyên liệu để mở rộng xuất khẩu

Chuẩn hóa vùng nguyên liệu để mở rộng xuất khẩu

(GLO)- Với hàng trăm mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói được cấp, cùng sự phát triển của các chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ, Gia Lai đang đẩy mạnh xây dựng và phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn, tạo động lực nâng cao giá trị nông sản và phát triển xuất khẩu bền vững.

Gia Lai chuyển hướng sản xuất nông nghiệp xanh.

Gia Lai chuyển hướng sản xuất nông nghiệp xanh

(GLO)- Gia tăng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học cho thấy sự thay đổi rõ nét trong tư duy sản xuất của nông dân Gia Lai. Từ các mô hình cà phê, chanh dây đến hợp tác xã, tổ liên kết, nông nghiệp xanh dần hình thành trên nền tảng giảm hóa chất, cải tạo đất và nâng cao chất lượng nông sản.

null