Dấu ấn thao lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị soi sáng hành trình phát triển hôm nay.
Thao lược nhìn từ tầm vóc Cách mạng tháng Tám
Chỉ trong khoảng 2 tuần của mùa thu năm 1945, chính quyền đã thuộc về nhân dân trên khắp cả nước. Cách mạng tháng Tám đã đập tan ách thống trị của thực dân, phát xít và chế độ phong kiến, đưa dân tộc Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Thắng lợi nhanh chóng ấy dễ khiến người ta nghĩ rằng nguyên nhân chủ yếu nằm ở sự sụp đổ của phát xít Nhật hay khoảng trống quyền lực lúc bấy giờ.
Thế nhưng, lịch sử đã chứng minh rằng, thời cơ chỉ thực sự trở thành thắng lợi khi cách mạng có đường lối đúng đắn, lực lượng đủ mạnh, tổ chức chặt chẽ và quyết sách kịp thời.
Dấu ấn “thao lược” thể hiện ở khả năng xác định đúng mục tiêu chiến lược; chủ động chuẩn bị thế và lực; nhạy bén dự báo, chớp thời cơ; lựa chọn phương thức hành động phù hợp để phát huy sức mạnh của nhân dân.
Vì vậy, thao lược không chỉ nằm ở quyết định Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, mà kết tinh trong hành trình Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh tìm đường, tạo thế, xây lực và lãnh đạo toàn dân giành chính quyền.
Vai trò của lãnh tụ và của Đảng hòa quyện trong một chỉnh thể thống nhất. Hồ Chí Minh tìm đường, mở đường, định hướng các quyết sách chiến lược; Đảng biến tầm nhìn ấy thành nghị quyết, tổ chức và phong trào cách mạng rộng khắp.
Nhìn xa, chuẩn bị thế và lực từ sớm
Ngay từ khi ra đời năm 1930, Đảng đã xác định đúng đắn con đường giải phóng dân tộc. Qua các cao trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939 và 1939-1945, Đảng từng bước giác ngộ, tổ chức quần chúng và đào tạo đội ngũ cán bộ.
15 năm chuẩn bị ấy đã tạo nên nền tảng vững chắc, để khi thời cơ đến, chủ trương của Trung ương nhanh chóng biến thành hành động của hàng triệu người.
Dấu ấn thao lược nổi bật của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, gắn cách mạng Việt Nam với dòng chảy thời đại và thực tiễn dân tộc.
Ngày 28-1-1941, sau 30 năm bôn ba, Người trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Chủ trì Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5-1941), Người hoàn chỉnh sự chuyển hướng chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu.
Nghị quyết Hội nghị chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.
Đây là quyết sách chiến lược mang tính sinh tử, giải quyết sáng tạo mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, giữa mục tiêu trước mắt và lâu dài. Từ đó, Mặt trận Việt Minh ra đời, mở rộng khối đại đoàn kết, quy tụ mọi người Việt Nam yêu nước, làm cho lòng yêu nước trở thành sức mạnh chính trị có tổ chức.
Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng khơi dậy nội lực dân tộc. Trong Lịch sử nước ta (năm 1942), Người căn dặn: “Dân ta phải biết sử ta/Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Cùng với lực lượng chính trị, Đảng và Người xây dựng căn cứ địa cùng lực lượng vũ trang.
Việc thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ngày 22-12-1944 thể hiện quan điểm chính trị trọng hơn quân sự, tuyên truyền trọng hơn tác chiến, xây dựng lực lượng từ nhân dân.
Trước khi thời cơ đến, cách mạng đã có đường lối đúng, tổ chức thống nhất, cán bộ được rèn luyện, lực lượng chính trị rộng lớn cùng lực lượng vũ trang và căn cứ địa vững chắc. Đảng không chờ vận may; Hồ Chí Minh trực tiếp chuẩn bị chủ thể để kiến tạo tương lai.
Nhận diện “thời cơ chín muồi” và hành động kiên quyết
Thao lược còn là nghệ thuật nhận diện tình thế: Không hành động khi điều kiện chưa chín, nhưng tuyệt đối không chần chừ khi thời cơ đã tới.
Đêm 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp. Ngày 12-3-1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, nhận định điều kiện tổng khởi nghĩa chưa hoàn toàn chín muồi và phát động “cao trào kháng Nhật cứu nước”.
Cao trào kháng Nhật, khởi nghĩa từng phần và phong trào phá kho thóc giải quyết nạn đói nhanh chóng đưa tình thế cách mạng đến chín muồi.
Tháng 8-1945, phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh vô điều kiện. Bộ máy thống trị ở Đông Dương rệu rã; quần chúng cách mạng sục sôi, trong khi quân Đồng minh chưa kịp vào giải giáp quân Nhật. Một “khoảnh khắc vàng” xuất hiện: Sớm hơn, phải đối đầu với quân Nhật còn mạnh; chậm hơn, các thế lực ngoại xâm sẽ can thiệp.
Dù đang ốm nặng tại Tân Trào, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn chỉ đạo và dặn đồng chí Võ Nguyên Giáp: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.
23 giờ ngày 13-8-1945, Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc ra Quân lệnh số 1. Hội nghị toàn quốc của Đảng (từ ngày 14 đến 15-8) quyết định phát động Tổng khởi nghĩa.
Quốc dân Đại hội Tân Trào (từ ngày 16 đến 17-8) tán thành chủ trương, cử Ủy ban Dân tộc giải phóng do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Việc triệu tập Quốc dân Đại hội đặt quyết định khởi nghĩa trên nền tảng ý chí toàn quốc, đồng thời chuẩn bị cho chính quyền mới.
Trong Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa, Hồ Chí Minh khẳng định: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Tinh thần “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” kết tinh tư tưởng độc lập, tự chủ và niềm tin vào sức mạnh nhân dân.
Các địa phương chủ động chớp thời cơ. Thắng lợi tại Hà Nội (ngày 19-8), Huế (ngày 23-8), Sài Gòn (ngày 25-8) lan tỏa trên toàn quốc. Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.
Nghệ thuật tạo thế, xây lực, chớp thời cơ đã góp phần mang lại quyền độc lập của dân tộc.
Giá trị soi sáng cho hiện tại và gợi mở cho Gia Lai
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám để lại bài học vô giá: Muốn biến khát vọng thành hiện thực, phải có tầm nhìn đúng, chuẩn bị chu đáo thế và lực, nhạy bén nhận diện thời cơ, quyết đoán hành động và dựa chắc vào nhân dân.
Vận dụng bài học ấy, Gia Lai cần định vị đúng vai trò trong không gian phát triển mới - nơi kết nối Tây Nguyên với Duyên hải miền Trung, giữa rừng và biển, giữa sản xuất và thị trường.
Thời cơ phát triển đòi hỏi sự chuẩn bị đồng bộ về thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực. Tiềm năng nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến, năng lượng tái tạo, logistics và du lịch sinh thái - văn hóa phải được tổ chức thành chuỗi giá trị hiện đại. Chính quyền địa phương 2 cấp cần chuyển từ “quản lý” sang “đồng hành, kiến tạo phát triển”.
Trong không gian từ cao nguyên đến duyên hải, “tạo thế” là hoàn thiện các trục kết nối Đông - Tây, gắn vùng nguyên liệu, khu vực biên giới và Cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh với công nghiệp chế biến, logistics và cảng Quy Nhơn; “xây lực” là nâng cao chất lượng cán bộ, nguồn nhân lực, năng lực quản trị và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Cùng với cao tốc Quy Nhơn - Pleiku, cần phát triển hài hòa kinh tế biển, kinh tế cửa khẩu, nông nghiệp xanh và du lịch rừng - biển, tạo sức cộng hưởng cho phát triển chung.
* * *
Kỷ niệm 81 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9 không chỉ để ôn lại quá khứ tự hào, mà còn tiếp thêm niềm tin và ý chí hành động. Dấu ấn thao lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục soi sáng để Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Gia Lai chủ động tạo thế, bền bỉ xây lực, nhạy bén nắm bắt thời cơ; tháo gỡ điểm nghẽn, không để tiềm năng ngủ quên, đưa tỉnh bứt phá trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.