Tập thơ Đảnh lễ mùa màng mở ra như một miền ký ức vừa thấm đẫm phù sa, vừa ngân rung những lớp trầm tích văn hóa, nơi quê hương là cõi neo đậu tinh thần.
Ngay từ những dòng mở đầu, không gian xứ Nẫu với bóng tháp, dấu tích Vijaya đã hiện lên như một nền trầm mặc cho ký ức cá nhân cất tiếng.
Trong bài Trong khoảng lặng của bóng tháp & phù sa… anh viết: “Nghe Bình Định một miền loang lổ nắng/Trên mái đầu cô tôi cõng bánh tráng đi phơi/Cô phơi cả trăm năm lịch sử/dưới bầu trời đất cũ Vijaya…”.
Tôi nhớ đến lời tâm sự của anh rằng: Trên miền đất cũ Vijaya này, anh luôn có cảm giác mọi thứ đều đang thì thầm. Những ngọn tháp Chăm như chứng nhân trầm mặc, soi bóng xuống sông Côn và đầm Thị Nại.
“Tôi hiểu rằng di sản không phải là những khối gạch vô tri, mà là một phần linh hồn của đất. Và thơ, nếu có thể, chỉ là một cách để cúi xuống, lắng nghe và “đảnh lễ” trước những gì thiêng liêng ấy” - nhà thơ Nhiên Đăng trải lòng.
Nếu có thể gọi tên một “ngôn ngữ” đặc trưng của tập thơ này thì đó chính là “ngôn ngữ cánh đồng”, thứ ngôn ngữ được hình thành từ đất, từ mưa, từ lao động và ký ức.
Lẽ vậy, trong bài Ngôn ngữ cánh đồng, anh viết: “Chân đồi, nắng nhạt góc ao đìa/bầy trâu vẽ vào hoàng hôn khuôn mặt tôi đen đúa/đang cười với mớ lúa vừa mót sau ngày mưa miết/nhặt về cho chú chim sắt đang chờ thức quà của tôi/ trong cái liu riu bếp lửa mẹ đổ bánh xèo hành lá/buổi tối đom đóm đốt bụng làm đuốc soi tìm chú ốc sên ma/cha nhặt về trong giỏ những cá, cua và ngôn ngữ cánh đồng/có tiếng nói người làng, tiếng nói tổ tiên tôi...”.
Đậm đặc chi tiết và trong thơ Nhiên Đăng mọi thứ cứ dung dị trải ra một cách tự nhiên. Có lẽ vì đó, thơ anh để cảm trọn vẹn, khó có thể ngắt câu, ngắt đoạn mà phải cộng hưởng để có thể đi đến cùng “mạch của chuyện”.
Với Đảnh lễ mùa màng, Nhiên Đăng tập hợp nhiều tác phẩm viết từ năm 2016 đến nay.
Giai đoạn những năm 2016-2019, định cư ở TP Hồ Chí Minh và đó là quãng thời gian anh đối diện nhiều nhất với câu hỏi về thân phận.
Anh viết Gửi một người đang hát trong vùng biển im lặng, Tri âm, Ký ức của một người cha để lại… như những cách lần tìm lại sợi dây nối giữa mình với người khác, giữa mình với ký ức.
Sau khi trở về quê nhà, anh lặng lẽ đi dọc sông Côn, ngồi bên đầm Thị Nại, gặp gỡ những người bạn chân thành, chạm vào những xưa cũ của quê nhà, tiếng thơ từ đó bật lên tha thiết những bài: Những xưa cũ vô cùng, Bếp quê, Tiếng thơ trên mặt đất…
Và những năm gần đây, khi thả mình sâu vào di sản Bình Định, thơ anh mở ra, cơi nới biên độ, cất lên tiếng nói đau đáu cho những mòn phai, mất mát của đất, của rừng, của suối sông, cánh đồng…
Anh chia sẻ: “Tôi điền dã nhiều hơn, đi sâu hơn vào không gian văn hóa của Bình Định. Những chuyến đi An Lão, những buổi chiều trên đầm Thị Nại, những khoảnh khắc giao mùa… tất cả như cùng lúc mở ra.
Tôi viết Đêm An Lão, Chiều trên đầm Thị Nại, Tiếng gọi giao mùa, rồi Đảnh lễ mùa màng, Sưởi ấm giấc mơ, Ngả lưng vào ghế… Có những niềm vui đến bất ngờ, như khi các bài thơ được trao giải, nhưng với tôi, điều quan trọng hơn là mình đã chạm được vào một mạch nguồn sâu hơn của đất và của chính mình”.
Nhà thơ Nhiên Đăng tên thật Trần Quốc Toàn, sinh năm 1992, quê ở Tuy Phước, hiện đang làm việc tại Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Gia Lai.
Anh đạt nhiều giải thưởng trong sáng tác, tiêu biểu như: Giải nhất Cuộc thi “Thơ hay 2023”, do Tạp chí Văn nghệ TP Hồ Chí Minh tổ chức; Giải nhất Giải thưởng thơ “Cuộc thi Thơ và truyện ngắn tỉnh Bình Định năm 2024 - 2025” do Hội Văn học Nghệ thuật Bình Định tổ chức; Giải C Cuộc thi thơ “Thơ ca và Nguồn cội” lần thứ 3 do Làng Chùa (Hà Nội) tổ chức năm 2025...
Hình ảnh thơ ở Đảnh lễ mùa màng tạo nên một thế giới thân thuộc đến mức chỉ cần đọc thôi cũng đủ gợi dậy trong lòng người những rung động sâu xa.
Dù viết về gì thì ngôn ngữ xuyên suốt của thơ Nhiên Đăng vẫn là “ngôn ngữ cánh đồng”, thân thương, gần gũi.
Ngôn ngữ ấy tồn tại trong từng sinh hoạt thường nhật, trong câu nói người quê chân phương thô tháp, trong hơi thở của đất đai.
Đó là thứ ngôn ngữ không thể đánh mất, bởi nó chính là căn cước tâm hồn của con người. Và cũng từ đó, hình ảnh quê hương được neo chặt, không dễ gì phai nhạt, dù con người có đi xa đến đâu.
Lắng sâu hơn tất cả, ta nhận ra sự hàm ơn của anh với quê hương cố thổ, như anh trải lòng: “Tôi viết những dòng thơ như một cách tạ ơn. Tạ ơn màu xanh của rừng, dòng chảy của nước, sự tôn nghiêm của di sản, và cả những mùa lúa thóc hoa màu lấm lem bùn đất.
Bởi suy cho cùng, đó chính là bầu sữa mẹ duy nhất nuôi dưỡng giấc mơ cơm áo và giữ lại phần linh hồn thuần khiết nhất cho mỗi con người”.