Trong đó, cà phê và chanh dây là mặt hàng nông sản chủ lực. Trước yêu cầu ngày càng chặt chẽ về an toàn thực phẩm, việc kiểm soát từ vùng nguyên liệu và bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc là điều kiện quan trọng để hạn chế rủi ro, giữ uy tín nông sản xuất khẩu.
Vùng nguyên liệu trước yêu cầu mới
Toàn tỉnh hiện có hơn 113 nghìn ha cà phê, trong đó hơn 101 nghìn ha cho sản phẩm. Bên cạnh yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm (ATTP), ngành hàng này còn phải thích ứng với quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu (EU).
Ông Thái Như Hiệp - Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Tổng Giám đốc Công ty TNHH Vĩnh Hiệp (phường An Phú) cho biết: DN đang liên kết, quản lý trực tiếp hơn 18.700 ha cà phê đạt chứng nhận 4C và Rainforest Alliance, sản lượng gần 70.000 tấn. Vùng nguyên liệu có sự tham gia của gần 21.000 nông hộ và đối tác sản xuất, tạo cơ sở kiểm soát chất lượng, thông tin canh tác và truy xuất nguồn gốc. Niên vụ 2025 - 2026, Vĩnh Hiệp xuất khẩu gần 180 nghìn tấn cà phê.
Với chanh dây, Gia Lai đặt mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 10.000 ha, sản lượng ước 389.500 tấn. Châu Âu là thị trường tiêu thụ quan trọng, chiếm khoảng 60 - 70% sản lượng chanh dây chế biến xuất khẩu của các DN lớn trên địa bàn. Điều này đòi hỏi kiểm soát chặt quy trình sản xuất và chất lượng nguyên liệu đầu vào.
Ông Lưu Quốc Thạnh - Tổng Giám đốc Công ty TNHH Quicornac (phường Pleiku) cho hay: Chanh dây tím Việt Nam được thị trường châu Âu ưa chuộng nhờ hương vị đặc trưng, hàm lượng dinh dưỡng cao và khả năng đáp ứng nhu cầu chế biến thực phẩm, đồ uống. Tuy nhiên, để duy trì lợi thế, sản phẩm phải bảo đảm chất lượng, độ đồng đều của nguyên liệu, đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt về ATTP, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và truy xuất nguồn gốc.
Quicornac thực hiện kiểm nghiệm dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong nguyên liệu để phòng ngừa rủi ro chất lượng. DN hiện có các chứng nhận FDA, Kosher, Halal… đối với sản phẩm chanh dây chế biến.
Truy xuất nguồn gốc để giữ uy tín nông sản
Trước yêu cầu của thị trường, tỉnh triển khai Kế hoạch số 369/KH-UBND về kiểm soát ATTP đối với nông sản có nguồn gốc thực vật xuất khẩu sang EU năm 2026. Tỉnh dự kiến giám sát 40 mẫu (20 mẫu cà phê, 20 mẫu chanh dây), đại diện cho hơn 10 vùng sản xuất tập trung.
Việc lấy mẫu ưu tiên khu vực có sản phẩm xuất khẩu sang EU, vùng trồng tập trung, có mã số vùng trồng, hệ thống truy xuất hoặc liên kết với cơ sở sơ chế, đóng gói, chế biến. Mẫu được lấy vào thời điểm thu hoạch, trước khi đóng gói xuất khẩu để kiểm nghiệm nitrat, kim loại nặng như chì, cadimi và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.
Kết quả đạt yêu cầu được cập nhật vào cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý, giám sát. Với mẫu không đạt hoặc có nguy cơ mất ATTP, cơ quan chức năng thông báo cho các đơn vị liên quan, truy xuất đến vùng trồng, hộ sản xuất hoặc cơ sở để xác định nguyên nhân. Khi EU hoặc khách hàng đưa ra cảnh báo, các đơn vị liên quan sẽ kiểm tra đột xuất và truy xuất nguồn gốc lô hàng, vùng sản xuất có liên quan.
Với những yêu cầu này, ở khâu sản xuất, HTX là đầu mối hướng dẫn, giám sát việc tuân thủ quy trình canh tác của các hộ thành viên. Ông Lê Văn Thanh - Chủ tịch Hội đồng quản trị HTX Sản xuất, Thương mại, Dịch vụ, Du lịch nông nghiệp Ia Mơ Nông (xã Ia Ly) cho biết: Trước mỗi vụ thu hoạch, HTX tổ chức kiểm tra nội bộ. Với vùng trồng, lô hàng phục vụ xuất khẩu, HTX phối hợp DN lấy mẫu kiểm nghiệm dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Nếu phát hiện hộ sử dụng thuốc ngoài danh mục cho phép hoặc không bảo đảm thời gian cách ly, HTX yêu cầu khắc phục, trường hợp cần thiết sẽ tạm dừng thu mua.
HTX hiện có 600 hộ thành viên và hộ liên kết với khoảng 800 ha cây trồng, chủ yếu là cà phê và chanh dây. Việc thống nhất tiêu chuẩn giúp nông hộ nắm rõ yêu cầu và thực hiện ngay từ khâu canh tác.
PGS.TS Lê Quốc Thanh - Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng: Nông dân không chỉ bán nông sản mà cần cung cấp cả “hồ sơ sản phẩm”, gồm thông tin về quy trình sản xuất, chất lượng và khả năng truy xuất nguồn gốc. Thiếu thông tin chứng minh chất lượng, xuất xứ, sản phẩm khó tạo khác biệt về giá trị và tiếp cận thị trường.
DN cần đồng hành, hỗ trợ tổ chức sản xuất và cùng chịu trách nhiệm về chất lượng. Khi sản xuất theo tiêu chuẩn, có đầy đủ thông tin truy xuất, nông dân sẽ có thêm cơ sở để chủ động định giá, lựa chọn đối tác và thị trường tiêu thụ.