Ngày 2-10, bà là một trong 42 cá nhân được Trung ương Hội Nông dân Việt Nam vinh danh “Nhà khoa học của nhà nông” năm 2026.
Trước đó, Th.S Trương Thị Thuận (SN 1980) được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tặng bằng khen vì hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giai đoạn 2020 - 2021; được vinh danh “Tri thức tiêu biểu về Khoa học - Công nghệ” tỉnh Bình Định lần thứ IV năm 2025, cùng nhiều hình thức khen thưởng khác.
Từ tình yêu đồng ruộng đến nghề nghiên cứu
• Cảm xúc của bà khi được vinh danh “Nhà khoa học của nhà nông”?
Tôi thực sự xúc động khi được vinh danh “Nhà khoa học của nhà nông”. Đây không chỉ là niềm vinh dự của cá nhân tôi mà còn là sự ghi nhận đối với những người đã cùng góp sức làm nên thành công của các công trình nghiên cứu, từ lãnh đạo Viện, cán bộ Bộ môn đến các địa phương và bà con nông dân đồng hành trong quá trình nghiên cứu, khảo nghiệm, đưa giống mới vào sản xuất.
Đặc biệt, sự vinh danh này ghi nhận những đóng góp của khoa học đối với nông nghiệp và người nông dân. Với người làm nghiên cứu, một giống cây trồng mới hay một quy trình kỹ thuật chỉ thực sự có giá trị khi được ứng dụng hiệu quả trên đồng ruộng, giúp nông dân nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và hiệu quả kinh tế. Điều đó càng củng cố niềm tin của tôi vào con đường đã lựa chọn.
• Điều gì đưa bà đến với nghề nghiên cứu, chọn tạo giống cây trồng?
Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình thuần nông tại thôn An Cửu, xã An Nhơn Tây. Tuổi thơ gắn với đồng ruộng, chứng kiến công việc sản xuất của người nông dân đã phần nào hình thành trong tôi tình yêu với nông nghiệp. Vì vậy, tôi quyết định thi vào ngành Nông học, Trường ĐH Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, niên khóa 2000 - 2005, với mong muốn đóng góp cho sản xuất nông nghiệp địa phương.
Năm 2006, tôi được nhận vào công tác tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung Bộ, tham gia nghiên cứu tại Bộ môn Cây thực phẩm (nay là Bộ môn Cây đậu đỗ). Giai đoạn 2013 - 2015, tôi học cao học chuyên ngành Khoa học cây trồng tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Công việc chính của tôi là lai tạo, chọn lọc dòng, khảo nghiệm giống, nghiên cứu biện pháp kỹ thuật, xây dựng mô hình trình diễn và phối hợp chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đến người sản xuất đối với các giống đậu phụng, đậu xanh, đậu tương, đậu cowpea và mè.
Kiên trì, trung thực để tạo ra giống tốt
• Nghiên cứu, chọn tạo giống cây trồng đòi hỏi sự kiên trì và trung thực như thế nào, thưa bà?
Đây là công việc cần nhiều thời gian vì phải trải qua nhiều thế hệ chọn lọc, nhiều vụ khảo nghiệm, đánh giá và kiểm chứng. Có những dự án mất 5 năm, thậm chí 10 năm mới đạt kết quả mong muốn. Quá trình nghiên cứu không phải lúc nào cũng thuận lợi, có tổ hợp lai không đạt yêu cầu, có dòng triển vọng nhưng khi đưa ra khảo nghiệm lại bộc lộ hạn chế. Người làm nghiên cứu cần tỉ mỉ, kiên nhẫn, bình tĩnh phân tích nguyên nhân, tìm hướng giải quyết, không nóng vội và không thỏa hiệp với kết quả đạt được trước mắt.
Đặc biệt, kết quả nghiên cứu giống phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của sản xuất và nông dân là đối tượng trực tiếp thụ hưởng những thành quả nghiên cứu. Vì vậy, bên cạnh sự kiên trì, tính trung thực và khách quan trong nghiên cứu giống rất quan trọng. Mọi kết quả phải được đánh giá trên cơ sở số liệu khoa học và thực tế sản xuất, nhìn nhận đầy đủ cả ưu điểm lẫn hạn chế để tiếp tục hoàn thiện.
• Sau 20 năm theo nghề, điều gì giúp bà duy trì niềm đam mê và sự bền bỉ?
Tôi đã tham gia nhiều dự án cấp bộ, cấp tỉnh về nghiên cứu, trong đó có dự án cấp tỉnh về “Bảo tồn nguồn gen một số giống cây trồng bản địa, gồm lúa cạn, ngô nếp và sắn ngọt, gắn với phát triển kinh tế cho phụ nữ nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định, giai đoạn 2022 - 2025”, các dự án về giống đậu phụng cho năng suất cao phục vụ ăn tươi, dự án giống đậu phụng, đậu xanh và mè có hàm lượng dầu cao phục vụ chế biến.
Một số công trình đạt giải thưởng như giải nhì Cuộc thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh Bình Định lần thứ XI (2018 - 2019) với giải pháp “Quản lý dinh dưỡng và nước tưới tổng hợp cho cây lạc trên đất cát tỉnh Bình Định”; giải khuyến khích Hội thi Sáng tạo kỹ thuật toàn quốc lần thứ XV (2018 - 2019) và giải nhì Cuộc thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh Bình Định lần thứ XII (2020 - 2021) với giải pháp “Giống lạc mới LDH.09 có khả năng chịu mặn, kháng bệnh héo xanh, phù hợp trên đất cát ven biển tại Bình Định”.
Điều tiếp thêm động lực cho tôi là các kết quả nghiên cứu được nông dân đón nhận, ứng dụng vào sản xuất, góp phần đa dạng hóa nguồn giống, nâng cao hiệu quả luân canh và chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Đến nay, có 7 giống cây trồng mới do chúng tôi nghiên cứu được tự công bố lưu hành, gồm 4 giống đậu phụng (LDH.09, LDH.99, LDH.01, LV20), 2 giống mè (BĐ.01, HLVĐ.78) và 1 giống đậu xanh (ĐXBĐ.07).
Kết quả nghiên cứu phải gắn với giá trị thực tiễn
• Những giống cây trồng này đã được ứng dụng trong sản xuất ra sao, thưa bà?
Hiện cả 7 giống đã được đưa vào sản xuất nhiều tại tỉnh Gia Lai, Lâm Đồng và TP Đà Nẵng, với tổng diện tích trên 1.000 ha/năm. Diện tích mỗi giống khoảng 100 ha/năm; riêng giống đậu phụng LDH.09 đạt trên 400 ha/năm.
Tại Gia Lai, các giống này được cơ quan chuyên môn đưa vào cơ cấu giống của tỉnh và ứng dụng tại nhiều diện tích cần chuyển đổi. Tiêu biểu là giống đậu phụng LDH.09 sau khi triển khai mô hình trình diễn trên diện tích 1 ha tại xã Cát Tiến vào năm 2015 đã từng bước được nông dân nhân rộng nhờ khả năng thích ứng với điều kiện thời tiết và nhiều loại đất, đặc biệt là đất cát ven biển.
Từ năm 2021 đến nay, giống đậu phụng này được trồng nhiều tại xã Cát Tiến, phường An Nhơn và phường An Nhơn Đông, với diện tích trên 400 ha/năm, năng suất đạt 80 tạ/ha, lợi nhuận trên 50 triệu đồng/ha.
• Thời gian tới, bà đặt ra những mục tiêu gì trong nghiên cứu và chuyển giao giống cây trồng?
Mong muốn của tôi là tiếp tục tạo ra những giống cây có giá trị thực tiễn, giúp nông dân nâng cao hiệu quả sản xuất. Hiện tôi cùng tập thể Bộ môn tiếp tục chọn lọc các dòng triển vọng, đánh giá năng suất, chất lượng, khả năng chống chịu và mức độ thích ứng tại những vùng sinh thái khác nhau.
Về lâu dài, tôi mong muốn cùng đồng nghiệp xây dựng nguồn vật liệu di truyền phong phú, tiếp tục tạo ra các giống cây trồng thuộc nhóm đậu đỗ có năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu tốt, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Tuy nhiên, giống tốt mới chỉ là điều kiện ban đầu. Hiệu quả sản xuất còn phụ thuộc vào chất lượng hạt giống, thời vụ, mật độ gieo trồng, chế độ dinh dưỡng, quản lý nước, phòng trừ sâu bệnh và điều kiện thời tiết ở từng địa phương.
Vì vậy, tôi sẽ tiếp tục phối hợp với cơ quan chuyên môn, địa phương và nông dân xây dựng mô hình trình diễn, hướng dẫn kỹ thuật để bà con nắm rõ đặc tính giống, quy trình canh tác và lựa chọn phương án sản xuất phù hợp. Khi giống tốt đi cùng kỹ thuật canh tác hợp lý và thị trường tiêu thụ ổn định, hiệu quả sản xuất mới có thể được phát huy bền vững.
• Xin cảm ơn bà về cuộc trò chuyện!