Từ mã số đến tổ chức lại sản xuất
Mã số vùng trồng không còn đơn thuần là điều kiện để nông sản đủ tiêu chuẩn xuất khẩu. Phía sau mỗi mã số là quá trình xác lập ranh giới vùng sản xuất, chuẩn hóa dữ liệu, kiểm soát vật tư đầu vào, ghi chép nhật ký và truy xuất nguồn gốc.
Nội dung này được trao đổi tại tọa đàm “Liên kết doanh nghiệp, HTX và người sản xuất trong xây dựng, quản lý và duy trì mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói” do Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Gia Lai tổ chức ngày 25-9.
Với các cây trồng chủ lực như cà phê, sầu riêng, chanh dây, chuối…, Gia Lai đang đẩy nhanh chuẩn hóa vùng sản xuất. Đến ngày 15-9, toàn tỉnh có 57/61 xã, phường ban hành kế hoạch, văn bản chỉ đạo; 42 xã, phường thành lập tổ công tác. Các địa phương đã thu thập dữ liệu 7.350 ha cà phê của 5.205 hộ và gần 970 ha sầu riêng của 712 hộ phục vụ cấp mã số vùng trồng.
Đến nay, Gia Lai có 381 mã số vùng trồng xuất khẩu với tổng diện tích hơn 12.666 ha; 60 mã số cơ sở đóng gói xuất khẩu với công suất từ 3.570 đến 3.840 tấn/ngày. Riêng sau khi Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP được ban hành, các xã, phường đã cấp 43 mã số vùng trồng với diện tích 144 ha và 1 mã số cơ sở đóng gói.
Theo ông Kiều Văn Cang - Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh, mã số vùng trồng cần được xem là công cụ tổ chức lại sản xuất chứ không chỉ là thủ tục hành chính. Khi vùng trồng được xác lập bằng ranh giới, dữ liệu và quy trình cụ thể, người sản xuất phải thay đổi cách làm, kiểm soát tốt hơn việc sử dụng vật tư, chăm sóc, thu hoạch và sơ chế.
Thực tế tại Công ty cổ phần Nông nghiệp công nghệ cao Hưng Sơn (phường An Phú) cho thấy, mã số chỉ phát huy giá trị khi gắn với vùng nguyên liệu ổn định. Từ khoảng 100 ha ban đầu, doanh nghiệp đã phát triển vùng chuối xuất khẩu lên khoảng 400 ha, được cấp 7 mã số vùng trồng và 3 mã số cơ sở đóng gói.
Ông Lê Hoàng Linh-Giám đốc vùng trồng của Công ty cho biết, điều quan trọng không chỉ là mở rộng diện tích mà còn phải duy trì tính đồng bộ của quy trình sản xuất, chất lượng sản phẩm và khả năng truy xuất nguồn gốc. Vì vậy, doanh nghiệp phải tham gia từ hướng dẫn kỹ thuật, kiểm soát quy trình đến đóng gói, tiêu thụ, thay vì chỉ thu mua vào cuối vụ.
Giữ mã số để giữ vùng nguyên liệu và thị trường
Nếu cấp mã số là bước khởi đầu thì duy trì mã số là bài toán lâu dài. Tại xã Ia Ly, HTX Sản xuất, Thương mại, Dịch vụ, Du lịch nông nghiệp Ia Mơ Nông hiện có 600 thành viên và hộ dân liên kết với khoảng 800 ha chanh dây, sầu riêng và cà phê; đã được cấp 6 mã số vùng trồng phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu.
Ông Lê Văn Thanh - Giám đốc HTX cho biết, khi tham gia vùng trồng có mã số, người dân phải thay đổi nhiều thói quen sản xuất. Việc sử dụng vật tư, phun thuốc, chăm sóc, thu hoạch đều phải tuân thủ quy trình và có hồ sơ theo dõi. “Chỉ cần xảy ra vi phạm về dư lượng hoặc hồ sơ không bảo đảm, mã số có thể bị cảnh báo, thậm chí thu hồi. Khi đó, không chỉ một hộ mà đầu ra và đơn hàng của cả vùng đều có thể bị ảnh hưởng” - ông Thanh nói.
Một hộ không tuân thủ quy trình có thể ảnh hưởng đến cả vùng nguyên liệu. Vì vậy, HTX giữ vai trò quan trọng trong tổ chức sản xuất, hướng dẫn kỹ thuật, kiểm tra việc ghi chép và tạo sự thống nhất giữa các hộ liên kết.
Số lượng mã vùng trồng và cơ sở đóng gói tăng nhanh tạo áp lực cho cơ quan chuyên môn. Địa bàn rộng, lực lượng ở cơ sở còn mỏng, trong khi việc duy trì mã số đòi hỏi kiểm tra và cập nhật dữ liệu thường xuyên. Nhiều hộ dân còn khó khăn khi khai báo, lưu trữ thông tin trên môi trường điện tử.
Ông Lê Quốc Thanh - Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cho rằng, cán bộ chuyên môn, lực lượng khuyến nông, HTX và người dân phải nắm vững quy trình, đồng thời nâng cao khả năng ứng dụng công nghệ trong quản lý dữ liệu.
Trong chuyến khảo sát mô hình liên kết ba bên phát triển vùng nguyên liệu chanh dây phục vụ xuất khẩu tại làng Ngol (xã Đăk Đoa) ngày 24-9, ông Thanh lưu ý các địa phương không nên chờ đến sát mùa vụ mới tập trung làm mã số.
Với sầu riêng, tiến độ rà soát và hoàn thiện hồ sơ cần được đẩy nhanh. Đối với cà phê, diện tích và số hộ sản xuất rất lớn, nếu chậm triển khai dễ dẫn đến dồn hồ sơ vào cùng một thời điểm. “Muốn có mã số vùng trồng phải lo ngay từ bây giờ, đừng để đến mùa vụ và bán sản phẩm chúng ta mới tập trung làm mã số”-ông Thanh nhấn mạnh.
Từ thực tế triển khai có thể thấy, mã số vùng trồng đang tạo ra cách tiếp cận mới trong phát triển nông nghiệp: từ quản lý từng hộ sang quản lý vùng sản xuất; từ bán sản phẩm riêng lẻ sang liên kết theo chuỗi; từ kiểm tra cuối vụ sang kiểm soát xuyên suốt quá trình canh tác.
Khi mỗi mã số gắn với vùng nguyên liệu ổn định, người dân tuân thủ quy trình, HTX làm tốt vai trò tổ chức, doanh nghiệp duy trì liên kết và cơ quan chuyên môn giám sát, giá trị của mã số sẽ không chỉ nằm ở khả năng đưa nông sản vào thị trường.
Đó là nền tảng hình thành vùng nguyên liệu có chất lượng đồng đều, truy xuất rõ ràng và đáp ứng yêu cầu của thị trường, qua đó góp phần nâng giá trị và sức cạnh tranh cho nông sản Gia Lai.