Gỡ “điểm nghẽn” để đưa mô hình trung học nghề vào thực tiễn

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News

(GLO)- Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2025 đã mở đường cho mô hình trung học nghề. Tuy nhiên, năm học 2026-2027, kỳ vọng về một cuộc bứt phá trong phân luồng học sinh sau THCS vẫn chưa thể chạm tới thực tế.

Vì sao một chủ trương nhận được sự đồng thuận cao từ xã hội, nhà trường đến doanh nghiệp lại trễ hẹn với thực tiễn? Câu trả lời không nằm ở nhận thức, mà nằm ở khoảng cách giữa chính sách vĩ mô và những hành lang pháp lý chưa kịp hoàn thiện.

Trong suốt năm học 2025-2026, cụm từ “trung học nghề” đã trở thành tâm điểm thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận xã hội. Kỳ vọng ấy càng có thêm điểm tựa vững chắc khi ngày 10-12-2025, Quốc hội chính thức thông qua Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2025, bổ sung loại hình và chương trình trung học nghề vào hệ thống quốc dân.

Luật có hiệu lực từ ngày 1-1-2026, đánh dấu cột mốc lịch sử, mở ra con đường học tập chính quy, linh hoạt và đầy triển vọng để thay đổi tư duy “đại học là con đường duy nhất”.

Bước đột phá từ mô hình trung học nghề

Học sinh tốt nghiệp THCS có 2 hướng là học THPT và trung học nghề. Ảnh minh họa: Mỹ Quyên/TNO

Học sinh tốt nghiệp THCS có 2 hướng là học THPT và trung học nghề. Ảnh minh họa: Mỹ Quyên/TNO

Nhiều năm qua, phân luồng học sinh sau THCS luôn là bài toán hóc búa đối với ngành Giáo dục và toàn xã hội. Mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương khuyến khích học nghề từ sớm, song tâm lý nặng nề về bằng cấp vẫn ăn sâu trong nhận thức của đại bộ phận phụ huynh và học sinh, khiến giáo dục nghề nghiệp vô tình bị xem là lựa chọn thứ yếu.

Hệ quả của lối mòn tư duy này đã dẫn đến nghịch lý trên thị trường lao động: Trong khi hàng ngàn cử nhân, cao học chật vật đối mặt với nguy cơ thất nghiệp thì các doanh nghiệp lại đỏ mắt tìm kiếm nguồn lao động kỹ thuật có tay nghề vững vàng.

Thực tế cho thấy, công tác phân luồng học sinh sau THCS tại Việt Nam nhiều năm qua vẫn chưa đạt được như kỳ vọng. Theo mục tiêu tại Đề án 522 của Chính phủ, đến năm 2025 phải có ít nhất 40% học sinh tốt nghiệp THCS tiếp tục học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Tuy nhiên, tại nhiều địa phương, tỷ lệ này vẫn còn khá thấp. Chẳng hạn, tại TP. Hồ Chí Minh - địa phương có hệ thống giáo dục nghề nghiệp phát triển hàng đầu cả nước, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS vào học các trình độ giáo dục nghề nghiệp những năm gần đây chỉ dao động khoảng 26% mỗi năm.

Tương tự, tại tỉnh Gia Lai (trước sáp nhập) cũng ở mức dưới 30%, thấp hơn so với mục tiêu đề ra. Điều đó cho thấy rào cản về nhận thức xã hội và sức hấp dẫn của giáo dục nghề nghiệp vẫn là một bài toán chưa có lời giải trọn vẹn.

Trong khi đó, thị trường lao động lại đang phát đi những tín hiệu hoàn toàn trái ngược. Nhiều doanh nghiệp trong các lĩnh vực sản xuất, xây dựng, cơ khí, điện - điện tử, tự động hóa, công nghệ cao liên tục phản ánh tình trạng thiếu hụt lao động kỹ thuật có tay nghề.

Nghịch lý “thừa thầy, thiếu thợ” vẫn tồn tại dai dẳng. Một bộ phận không nhỏ người học tập trung vào con đường đại học, trong khi nhu cầu nhân lực kỹ thuật trực tiếp phục vụ sản xuất ngày càng gia tăng. Khoảng cách giữa cơ cấu đào tạo và nhu cầu thực tế của thị trường lao động đang trở thành một trong những "điểm nghẽn" lớn đối với năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Chính vì vậy, sự ra đời của mô hình trung học nghề không chỉ nhằm giải quyết bài toán phân luồng học sinh sau THCS mà còn hướng tới mục tiêu lớn hơn là tái cân bằng cơ cấu nguồn nhân lực quốc gia.

Nếu được tổ chức bài bản và đúng hướng, đây sẽ là cầu nối quan trọng giữa nhà trường với doanh nghiệp, giữa đào tạo với việc làm, góp phần hình thành đội ngũ lao động kỹ thuật chất lượng cao.

Thách thức lớn nhất hiện nay là sự thiếu vắng hệ thống văn bản hướng dẫn chi tiết từ khung chương trình, quy chế tuyển sinh, liên thông cho đến cơ chế công nhận văn bằng.

Trong đó, việc chưa có 1 bộ khung chương trình thống nhất đang làm dấy lên lo ngại: Liệu rằng trung học nghề có lặp lại công thức của chương trình giáo dục thường xuyên cũ với việc chỉ học bổ trợ vài môn văn hóa bị cắt xén một cách cơ học?

Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Nhìn ra thế giới, việc phân luồng học sinh sau THCS sang hệ thống trung học nghề không còn là giải pháp tình thế, mà đã trở thành chiến lược cốt lõi để phát triển kinh tế của các quốc gia thịnh vượng.

phan-luong-hoc-sinh-sau-tot-nghiep-thcs.jpg
Thực tế cho thấy, công tác phân luồng học sinh sau THCS tại Việt Nam nhiều năm qua vẫn chưa đạt được như kỳ vọng. Ảnh minh họa: H.Đ

Tại các nền kinh tế phát triển thuộc khối OECD hay Liên minh châu Âu (EU), tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS chủ động rẽ hướng sang học nghề phổ biến từ 20-50%.

Sở dĩ các quốc gia này thành công là bởi họ không xem giáo dục nghề nghiệp là “chiếc phao cứu sinh” cho những người học yếu, mà là một lộ trình phát triển khác biệt, có giá trị tương đương với giáo dục phổ thông hàn lâm.

Học sinh học nghề vẫn được tiếp cận kiến thức văn hóa cốt lõi, được trang bị kỹ năng chuyên sâu và quan trọng hơn cả là được bảo đảm quyền liên thông lên các bậc học cao hơn. Chính sự bình đẳng về cơ hội đã tạo nên sức hấp dẫn tự thân cho hệ thống này.

Thiết nghĩ, để không đi vào vết xe đổ của các mô hình trước đây, điều cốt lõi là phải xác lập trung học nghề như một cấp học chính thức, bình đẳng với THPT. Nếu ngay từ thiết kế chính sách, trung học nghề vẫn bị xếp ở vị thế thấp hơn, xã hội sẽ tiếp tục duy trì tâm lý phân tầng định kiến: học sinh khá giỏi vào THPT, học sinh yếu mới đi học nghề.

Khi đó, bài toán phân luồng sẽ mãi là một lời giải dang dở, bởi người học lựa chọn dựa trên áp lực về danh vị xã hội chứ không phải bằng năng lực và đam mê. Hệ thống giáo dục tiến bộ không tồn tại khái niệm “luồng chính” hay “luồng phụ”, mà cần thừa nhận sự đa dạng của người học, kiến tạo nên những hành trình khác nhau nhưng mang giá trị ngang nhau.

Để trung học nghề không là cuộc cải cách nửa vời

Để trung học nghề không trở thành cuộc cải cách nửa vời hay phiên bản mới của mô hình cũ, cần một hệ thống giải pháp đồng bộ từ tư duy chính sách đến tổ chức thực hiện.

trung-hoc-nghe.jpg
Cần gắn đào tạo nghề với nhu cầu của thị trường lao động. Ảnh minh họa: M.T

Trước hết, muốn trung học nghề thành công, Nhà nước cần trao cho nó một “danh phận” pháp lý tương đối bình đẳng với THPT. Sự bình đẳng này phải được luật hóa rõ ràng bằng các quyền lợi thực tế: quyền được dự thi các cấp học cao hơn mà không gặp bất kỳ rào cản hành chính nào; quyền được công nhận văn bằng tương đương trong các thang bảng lương và tuyển dụng của hệ thống công chức, viên chức.

Chỉ khi được duy trì bởi một hành lang pháp lý vững chắc, trung học nghề mới thoát khỏi cái mác “nhánh phụ”, chính thức trở thành một cấp học độc lập, có sức hút tự thân và đủ tư cách tham gia vào cuộc điều hướng nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước.

Thứ hai, các cơ quan quản lý cần sớm làm rõ bộ khung chương trình, xác định tỷ lệ phân bổ thời gian tối ưu giữa kiến thức văn hóa cốt lõi và kỹ năng thực hành nghề.

Đi kèm với đó, các quy định minh bạch về chuẩn đầu ra, quy chế tuyển sinh thống nhất và việc ban hành điều lệ trường trung học nghề sẽ là những “viên gạch” nền móng giúp dập tắt tâm lý chờ đợi của các cơ sở đào tạo, tạo ra bệ đỡ vững chắc để toàn hệ thống tự tin vận hành đúng quỹ đạo.

Thứ ba, thay vì để các trường tự bơi trong khó khăn đã đến lúc cần một tư duy quy hoạch mạnh mẽ và đồng bộ: sáp nhập các trung tâm giáo dục thường xuyên vào các trường cao đẳng công lập trên địa bàn.

Giải pháp này giúp tối ưu hóa nguồn lực sẵn có thông qua việc tận dụng đội ngũ giáo viên văn hóa giàu kinh nghiệm của trung tâm giáo dục thường xuyên, kết hợp với hệ thống nhà xưởng, giảng viên chuyên ngành của trường cao đẳng.

Sự cộng hưởng này loại bỏ hoàn toàn sự chồng chéo, lãng phí trong đầu tư công; đồng thời tạo ra một chỉnh thể đào tạo thống nhất, giúp học sinh trung học nghề có môi trường học tập toàn diện nhất.

Thứ tư, Nhà nước cần tập trung nguồn lực để đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị một cách bài bản, hiện đại cho các trường sau sáp nhập. Chỉ khi học sinh được học tập trong những giảng đường khang trang, được thực hành trên các dây chuyền công nghệ tiệm cận với thực tế sản xuất của doanh nghiệp, mô hình trung học nghề mới thực sự tạo ra sức hút tự nhiên.

Thứ năm, thay vì vội vã áp dụng đồng loạt dễ dẫn đến rủi ro hệ thống, một lộ trình triển khai thông minh cần được hoạch định theo từng giai đoạn cụ thể. Việc lựa chọn một số địa phương hoặc các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có tiềm lực mạnh về cơ sở vật chất để tổ chức thí điểm là bước đi cần thiết.

Giai đoạn bản lề này giúp các nhà làm chính sách có cơ hội đo lường chính xác tính khả thi của chương trình, đánh giá mức độ hấp thụ của người học và phản hồi trực tiếp từ thị trường lao động. Trên cơ sở thực tiễn sinh động đó, chúng ta sẽ kịp thời điều chỉnh, hoàn thiện các quy định trước khi nhân rộng ra toàn quốc, bảo đảm tính bền vững và chất lượng thực chất cho mô hình.

Thứ sáu, sức sống của trường nghề nằm ở nhà xưởng của doanh nghiệp. Để xóa bỏ triệt để tình trạng “đào tạo lại”, doanh nghiệp phải được mời gọi tham gia trực tiếp với tư cách là một chủ thể song hành cùng nhà trường từ khâu thiết kế giáo trình, định hình tiêu chuẩn năng lực cho đến đánh giá chuẩn đầu ra.

Mối quan hệ gắn kết hữu cơ này không chỉ giúp chương trình học bắt kịp với sự thay đổi chóng mặt của công nghệ sản xuất, mà còn mở ra cơ hội cho học sinh được thử sức mình trong môi trường làm việc thực tế từ sớm thông qua các kỳ thực tập chất lượng. Khi đầu ra của nhà trường khớp chặt với “đơn đặt hàng” của thị trường, trung học nghề tự khắc sẽ có câu trả lời thuyết phục nhất về giá trị của mình.

Cuối cùng, mọi nỗ lực cải cách về chính sách hay cơ sở vật chất sẽ trở nên vô nghĩa nếu không phá vỡ được “bức tường định kiến” trong tâm lý xã hội. Do đó, cần một chiến dịch truyền thông định vị lại giá trị của lao động kỹ thuật. Hãy để xã hội nhìn thấy những câu chuyện thành công có thật: những kỹ sư thực hành làm chủ công nghệ ở tuổi đôi mươi, những chuyên gia kỹ thuật sở hữu mức thu nhập khiến nhiều cử nhân đại học mơ ước.

Khi truyền thông chứng minh được học nghề là một con đường lập thân chủ động, đầy tự hào chứ không phải là “chiếc phao cứu sinh” cho những học sinh trượt lớp 10, lúc đó, công tác phân luồng mới thực sự diễn ra một cách tự nhiên và bền vững.

Có thể bạn quan tâm

Xử lý trụ sở dôi dư

Xử lý trụ sở dôi dư

(GLO)- Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, nhiều cơ quan, đơn vị được bố trí lại trụ sở làm việc. Tuy nhiên, quá trình này cũng phát sinh bài toán xử lý số trụ sở, nhà, đất công dôi dư. Nếu chậm được sắp xếp, xử lý, nguồn lực công này có nguy cơ bị bỏ không, gây lãng phí.

Quản lý nhưng đừng kìm hãm

Quản lý nhưng đừng kìm hãm

Sau một số sự cố liên quan thiết bị bay không người lái (UAV, drone) xảy ra tại các sân bay, hoạt động của loại phương tiện này đang được siết chặt ở VN. Vừa qua, lực lượng an ninh Cảng hàng không Thọ Xuân (Thanh Hóa) vận động người dân tự giác giao nộp flycam.

Tỏa sáng cùng châu Á

Tỏa sáng cùng châu Á

Tối nay 19-9, ngọn lửa Á vận hội - ASIAD 20 được thắp sáng tại Aichi - Nagoya. Đây là lần đầu tiên sau 32 năm, kể từ Hiroshima 1994, Đại hội Thể thao châu Á trở lại Nhật Bản.

Xây dựng kỹ năng dùng AI

Xây dựng kỹ năng dùng AI

Trong thời đại mà trí tuệ nhân tạo (AI) được ứng dụng rộng rãi vào đời sống, việc xây dựng kỹ năng về sử dụng, tránh lạm dụng hay tạo “sức đề kháng” để nhận diện thông tin giả từ AI là cần thiết.

Bánh mì an toàn

Bánh mì an toàn

(GLO)- Bánh mì là món ăn quen thuộc, tiện lợi và có mặt gần như ở mọi nơi. Nhưng cũng chính vì phổ biến, được chế biến và bán ở rất nhiều cơ sở lớn nhỏ khác nhau, bánh mì luôn tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn thực phẩm (ATTP) nếu không được kiểm soát chặt chẽ.

Ứng biến với nông sản

Ứng biến với nông sản

Trong khi giá lương thực thế giới đang tăng cao vì nhiều nước tăng nhập khẩu để ứng phó với siêu El Nino, thì VN với vị thế là quốc gia đứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu gạo nhưng giá gạo VN lại bất động, thậm chí có xu hướng giảm.

Định danh tác phẩm, bảo vệ quyền tác giả

Định danh tác phẩm, bảo vệ quyền tác giả

Nhìn vào các vụ xâm phạm quyền tác giả bị xử lý hình sự, lĩnh vực phần mềm và âm nhạc thường được nhắc đến nhiều hơn các lĩnh vực sáng tạo khác. Điều đó không có nghĩa hội họa, nhiếp ảnh, văn học, thiết kế ít bị xâm phạm. Trên thực tế, hành vi xâm phạm quyền tác giả trong các lĩnh vực này rất nhiều.

Năm của hành động và kiểm chứng

Năm của hành động và kiểm chứng

Năm học 2026-2027 đã bắt đầu. Một năm học được kỳ vọng mở ra những bước chuyển mới của giáo dục Việt Nam khi Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển GD-ĐT được triển khai, cùng những chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và những động thái mới từ ngành giáo dục.

Thời cơ bứt phá

Thời cơ bứt phá

Theo tờ Nikkei Asia dẫn một số nguồn tin, Google (Mỹ) dự định từ năm 2027 sẽ chuyển toàn bộ mảng sản xuất điện thoại di động thông minh (smartphone), đồng hồ thông minh (smartwatch) và tai nghe không dây mang thương hiệu Pixel của Google ra khỏi Trung Quốc.

Viết tiếp trang sử mới

Viết tiếp trang sử mới

(GLO)- Mùa thu, khi cả nước hân hoan cờ hoa chào mừng kỷ niệm 81 năm Cách mạng tháng Tám thành công, mỗi người Việt Nam chúng ta lại càng cảm nhận sâu sắc hơn giá trị của độc lập dân tộc.

Quản lý thịt nhập thế nào?

Quản lý thịt nhập thế nào?

Mỗi năm VN nhập tới khoảng 2 tỉ USD, tương đương hơn 52.000 tỉ đồng thịt các loại gồm trâu, heo, gà, phụ phẩm... Thế nhưng nếu hỏi những loại thực phẩm này tiêu thụ ở đâu, không dễ có câu trả lời.

Niềm vui trước năm học mới

Niềm vui trước năm học mới

(GLO)- Năm học 2026-2027 đang đến gần. Trong nhiều khoản chi phải lo cho con em trước ngày khai giảng, sách giáo khoa có thể không phải khoản lớn nhất. Thế nhưng, với những gia đình thu nhập thấp, đông con đi học hoặc có hoàn cảnh khó khăn, đây vẫn là 1 khoản chi đáng kể.

Bản quyền và cái tâm của người nghệ sĩ

Bản quyền và cái tâm của người nghệ sĩ

Thời gian gần đây, tôi nhận được rất nhiều email và tin nhắn xin phép sử dụng ca khúc do tôi sáng tác. Đây thực sự là một tín hiệu rất đáng mừng về ý thức bản quyền trong cộng đồng. Tâm lý mặc nhiên “nhạc trên mạng cứ dùng miễn phí” đang dần được thay thế bằng ý thức tôn trọng công sức sáng tạo.

null