Trồng dâu nuôi tằm: Lợi nhuận cao, rủi ro thấp

Theo dõi Báo Gia Lai trên Google News
(GLO)- Thời gian qua, huyện Chư Sê (Gia Lai) đã triển khai thí điểm mô hình trồng dâu nuôi tằm theo kỹ thuật mới. Với hiệu quả kinh tế bước đầu được đánh giá cao gấp 3-4 lần so với trồng các loại cây hoa màu truyền thống, mô hình này đang mở ra triển vọng giúp nông dân Chư Sê có cuộc sống khấm khá hơn.
Ông Lê Sỹ Quý-Giám đốc Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp huyện Chư Sê-cho biết: Tháng 8-2018, Trung tâm phối hợp với UBND xã Al Bá chọn 6 hộ để triển khai mô hình trồng dâu nuôi tằm. Các hộ tham gia mô hình được cung cấp cây giống và hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc. Sau 3 tháng xuống giống, cây dâu phát triển xanh tốt, năng suất và chất lượng lá đảm bảo để nuôi tằm lấy kén. Theo tính toán, mỗi sào dâu tốt có thể đảm bảo đủ lượng thức ăn cho 1 hộp tằm. Trong quá trình nuôi, người dân phải thực hiện đúng quy trình kỹ thuật được hướng dẫn để tằm phát triển tốt. Mỗi hộp tằm giống có giá 1 triệu đồng, nuôi trong khoảng 15 ngày sẽ cho thu 50 kg kén, lợi nhuận cao gấp 3-4 lần so với trồng các loại cây hoa màu truyền thống. Đặc biệt, nghề nuôi tằm có độ rủi ro thấp vì mức đầu tư ít. Đến nay, mô hình trồng dâu nuôi tằm đã đem lại nguồn thu nhập khá cho các hộ tham gia.
 Kiểm tra chất lượng kén. Ảnh: N.S
Kiểm tra chất lượng kén. Ảnh: N.S
Anh Trần Thanh Hà (thôn Tứ Kỳ Bắc, xã Al Bá) cho biết: “Cuối năm 2018, gia đình tôi được Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp huyện hỗ trợ 1 hộp giống tằm để nuôi. Sau hơn nửa tháng, gia đình thu được 39 kg kén. Với giá bán 125.000 đồng/kg kén, gia đình thu về hơn 4,8 triệu đồng. Tôi thấy việc nuôi tằm mang lại hiệu quả cao hơn so với trồng cà phê và các loại hoa màu khác. Tới đây, tôi dự kiến mở rộng diện tích dâu để nuôi thêm 2 hộp giống tằm”.
Gia đình chị Nguyễn Thị Hường (thôn Tứ Kỳ Bắc) trước đây chỉ trồng cà phê, hồ tiêu. Thời gian qua, hồ tiêu bị bệnh chết hàng loạt, cà phê mất mùa, mất giá nên gia đình chị lâm vào cảnh khó khăn. Cuối năm 2018, gia đình chị tham gia mô hình trồng dâu nuôi tằm, được Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp huyện đầu tư giống, tập huấn kỹ thuật chăm sóc. Lứa tằm đầu tiên gia đình chị nuôi đã thành công, sản phẩm đạt năng suất, chất lượng cao. Chị Hường vui vẻ cho biết: “Tôi thấy trồng dâu nuôi tằm vốn đầu tư thấp lại cho thu nhập khá ổn định”.
Theo chị Hoàng Thị Huấn-chủ đại lý cung ứng vật tư và con giống (huyện Krông Buk, tỉnh Đak Lak): Nghề trồng dâu nuôi tằm còn khá mới mẻ với người dân Chư Sê nhưng làm nghề cũng không khó lắm. Bà con chỉ cần chú ý một số điểm như: nhà nuôi tằm phải làm ở nơi thoáng mát để không khí lưu thông tốt; thường xuyên theo dõi chăm sóc, vệ sinh sạch sẽ cho tằm, không để tằm bị nhiễm bệnh. Đặc biệt, khi tằm được 10-12 ngày tuổi là thời điểm tằm ăn rỗi nên người nuôi cần bổ sung thêm thức ăn so với thời gian đầu. Như vậy, tằm sẽ lớn đều và cho ra sản phẩm kén to, dày, chất lượng tơ bóng đẹp, bán được giá. Ngoài ra, cây dâu sau thời gian thu hoạch lá đợt 1, người dân chỉ cần cắt bỏ cành và bón phân thì sẽ tiếp tục cho lá đợt 2 để nuôi tằm.
Trao đổi với P.V, Giám đốc Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp huyện Chư Sê cho biết thêm: “Khi đưa tằm vào nuôi thí điểm tại các hộ, sau 15 ngày thì tằm cho lứa kén đầu tiên đạt chất lượng tốt, đem lại nguồn thu nhập khá cho người dân trong thời gian ngắn. Vì vậy, các hộ rất phấn khởi và hy vọng mô hình sẽ mở ra hướng đi mới trong điều kiện giá cà phê, hồ tiêu đang xuống thấp, cây lại nhiễm dịch bệnh. Chúng tôi đề nghị UBND huyện quan tâm mở rộng thêm vùng quy hoạch trồng dâu trên địa bàn xã Al Bá và nhân rộng ra các xã khác để có hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên vườn hồ tiêu chết, vườn cà phê già cỗi nhằm giúp người dân có nguồn thu nhập khá hơn”.
Ngọc Sang

Có thể bạn quan tâm

Hợp tác xã thay đổi tư duy sản xuất cho nông dân

Hợp tác xã thay đổi tư duy sản xuất cho nông dân

(GLO)- Khi thị trường ngày càng đòi hỏi cao về chất lượng và truy xuất nguồn gốc, các HTX nông nghiệp đang trở thành điểm tựa giúp nông dân thay đổi nếp nghĩ, cách làm. Từ sản xuất nhỏ lẻ, tự phát, nhiều hộ đã chuyển sang liên kết theo chuỗi, sản xuất bài bản để nâng cao giá trị nông sản.

Các mô hình sản xuất hiệu quả được triển khai tại xã An Lão đã tạo ra động lực giúp đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên thoát nghèo bền vững.

An Lão ưu tiên nguồn lực cho công tác giảm nghèo

(GLO)- Những năm qua, xã An Lão (tỉnh Gia Lai) đã tập trung triển khai nhiều giải pháp giảm nghèo bền vững, phát huy hiệu quả các mô hình sản xuất và nguồn vốn tín dụng chính sách, giúp người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số từng bước vươn lên, ổn định cuộc sống.

Nông nghiệp sạch nâng tầm giá trị nông sản

Nông nghiệp sạch nâng tầm giá trị nông sản

(GLO)- Tận dụng lợi thế thổ nhưỡng, khí hậu, nông dân vùng sâu Tây Gia Lai đang chuyển sang sản xuất nông nghiệp sạch theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP. Các mô hình từ dưa lưới, chanh dây đến cà phê giúp nâng cao giá trị nông sản, ổn định đầu ra và cải thiện thu nhập cho nông dân.

Gia Lai đẩy nhanh công tác hỗ trợ giải bản tàu cá

Gia Lai đẩy nhanh công tác hỗ trợ giải bản tàu cá

(GLO)- Những tuần qua, các địa phương ven biển của tỉnh Gia Lai đồng loạt tăng tốc triển khai chính sách hỗ trợ giải bản tàu cá cho ngư dân. Qua khảo sát, phần lớn các xã, phường đã thành lập hội đồng thẩm định tàu, tích cực hướng dẫn ngư dân hoàn thiện thủ tục theo quy định.

Cà phê Gia Lai chạm mốc 30 tấn/ha - thành quả của sự đầu tư bài bản.

Cà phê Gia Lai chạm mốc 30 tấn/ha - thành quả của sự đầu tư bài bản

(GLO)- Ở Gia Lai, nhiều vườn cà phê đạt trên 30 tấn quả tươi/ha, vượt ngưỡng năng suất từng được xem là “trần” trong canh tác. Kết quả này không đến từ may rủi mà là thành quả của sự đầu tư bài bản, ứng dụng khoa học kỹ thuật và thay đổi tư duy sản xuất, tạo nền tảng cho phát triển bền vững.

Giống lúa TBR16 tại xã Đak Đoa đạt năng suất 70 tạ/ha

Giống lúa TBR16 tại xã Đak Đoa đạt năng suất 70 tạ/ha

(GLO)- Sáng 24-4, tại xã Đak Đoa (tỉnh Gia Lai), Trung tâm Dịch vụ sự nghiệp công xã Mang Yang phối hợp với Công ty TNHH Thai Binh Seed - Miền Trung Tây Nguyên (trực thuộc Tập đoàn ThaiBinh Seed) tổ chức hội thảo mô hình trình diễn sản xuất giống lúa nước chất lượng cao TBR16.

null