Huy Khải-Làn hơi không tuổi

(GLO)- Cái da diết và dày hơi của tiếng kèn Huy Khải làm cho người nghe khó nghĩ ra anh đã 75 tuổi. Cách đây mấy hôm, rủ nhau uống cà phê ở góc quen, tôi ngỏ ý và xin được viết về anh, người nghệ sĩ saxophone không nổi tiếng, nhưng dư thừa đam mê và tài năng của phố nhỏ Pleiku.

Cách đây vài năm, tôi mời anh tham gia chương trình ca nhạc định kỳ tại một phòng trà ở Pleiku chỉ nhằm “sắc màu hóa” phần nhạc cụ. Để “thử giọng”, tôi đề nghị anh chơi “The Shadow of Your Smile” của nhà soạn nhạc Johnny Mandel và “Hạ trắng” của Trịnh Công Sơn. Dân chơi saxophone kháo nhau rằng, chưa mượt mà 2 tác phẩm âm nhạc này thì xem như chưa phải là saxophonist (nghệ sĩ saxophone). Tiếng saxophone của Huy Khải-mà giới hoạt động ca nhạc ở Gia Lai thường gọi thân mật là anh Bảy-đã đánh bật cái định kiến về nghệ sĩ tỉnh lẻ trong tôi. Từ đó, anh thường xuyên xuất hiện với các tiết mục trình tấu hàng tuần ở phòng trà do tôi biên tập.

 

Nghệ sĩ saxophone Huy Khải. Ảnh: N.S
Nghệ sĩ saxophone Huy Khải. Ảnh: N.S

Khi sân khấu nhỏ ấy ngưng hoạt động, tôi và anh cũng ít gặp nhau. Vừa rồi, tôi lại được nghe “Thuở ấy có em”, sáng tác của nhạc sĩ Huỳnh Anh qua file mp3 anh gửi cho. Anh bảo đó là một trong 10 nhạc phẩm anh sẽ ghi âm, định là sẽ có một CD để lại cho con cháu. Cái da diết và dày hơi của tiếng kèn Huy Khải làm cho người nghe khó nghĩ ra anh đã 75 tuổi. Cách đây mấy hôm, rủ nhau uống cà phê ở góc quen, tôi ngỏ ý và xin được viết về anh, người nghệ sĩ saxophone không nổi tiếng, nhưng dư thừa đam mê và tài năng của phố nhỏ Pleiku, như một lời bạt cho CD của anh.

Anh theo cha mẹ từ quê Nhơn Lộc, An Nhơn, Bình Định lên Gia Lai lập nghiệp năm 1955. Lúc ấy, Khải mới 10 tuổi mà đã mê nhạc lắm. Hồi đó để nghe nhạc thì có gì khác ngoài đài phát thanh. Anh bị tiếng kèn saxophone mê hoặc dù chẳng biết đó là loại nhạc cụ gì. Anh bảo “Nó hay lắm! Ma mị lắm! Lúc thì trầm uất nỗi thống khổ, lúc thì dồn dập tiếng hoan ca... Không mê nó sao được!”. Pleiku nhỏ xíu, ai cũng nghe nhạc ít nhiều, nhưng rành về nhạc cụ thì chẳng có ai, may có bà chị ở Sài Gòn mách cho thì mới biết đó là kèn saxophone. Hết năm đệ tứ thì anh Khải bỏ học, khăn gói lặn lội vào Nam đi tìm thầy thọ giáo. Anh kể về ông Hoàng, người thầy đầu tiên của anh trong thời gian gần một năm, không nổi tiếng như Huỳnh Hoa, Khánh Băng... nhưng dư thừa tình yêu cho âm sắc của saxophone. Sau này, phong cách của anh chịu ảnh hưởng rất lớn từ thầy Hoàng.

Trở về Pleiku, Huy Khải vẫn chưa sắm nổi cho mình một cây kèn, bởi giá lúc ấy rẻ rẻ cũng trên dưới trăm ngàn đồng, tương đương vài chục lượng vàng. Thụ giáo một ông lính quân nhạc là cách mà anh chọn để vừa học hỏi vừa có nhạc cụ mà tập. Cuối cùng thì ông thầy này thương tình nửa bán nửa cho anh cây kèn cũ. Người thầy thứ ba của Huy Khải là ông Nguyễn Văn Phước. Ông này tốt nghiệp Trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn. Sáu năm, 3 ông thầy, 3 phong cách mang lại cho anh vốn liếng tạm đủ để Huy Khải trở thành người chơi kèn saxophone hiếm hoi ở Pleiku. Làn hơi ấy đã khiến khán giả phải chú tâm lắng nghe khi kèn anh cất tiếng.

Ở cái tuổi thất thập, Huy Khải vẫn đang kín lịch diễn hàng tuần, dù đa phần là góp vui trong các đám cưới, sự kiện đủ loại. Xem chừng, anh vẫn còn khỏe lắm khi chẳng từ chối lời mời nào nếu lịch còn trống. Anh có mặt khắp nơi trong tỉnh, ngoài tỉnh. Gần cỡ vài chục cây số thì một mình một chiếc xe máy cũ giong kèn đến tận nơi, xa hơn cả trăm cây số mới nhờ xe ca, xe buýt. Anh lý giải rất khiêm tốn rằng có lẽ với đa phần mọi người, kèn saxophone xuất hiện trong một sự kiện tỉnh lẻ làm tăng thêm một chút hấp dẫn chứ chẳng phải anh chơi xuất sắc. Thế đấy, biết Bảy Khải, ai cũng rất mến cái tính cách xởi lởi của anh, dễ chịu lắm! Khó tìm ở lứa tuổi ấy.

Đâu chỉ đem tiếng kèn đến chúc mừng hạnh phúc đôi lứa, anh còn là thành viên của nhóm nhạc lâm khốc, sử dụng đàn kìm và đàn bầu để tiễn đưa linh hồn người đã khuất. Đây là cái rất lạ ở anh, vui cùng thiên hạ và chia sẻ nỗi buồn của thế gian bằng khả năng âm nhạc của mình. Hoan hỉ và bi ai, thuần Tây và rất Việt, nét tương phản rõ nét trong con người âm nhạc của Huy Khải. Chẳng thể nói nhạc công là nghề của anh, có chăng cũng chỉ là nghề tay trái nhưng lại cho anh mức thu nhập gấp vài lần so với nghiệp tạo hình gỗ mà anh vẫn còn đang miệt mài với đôi tay khéo léo của mình.

Không khó để nhận ra chút hài lòng trong Bảy Khải về những gì anh đang có với cây kèn saxophone, nhưng anh vẫn trăn trở: “Giá Pleiku mình lại có một sân chơi để mình biểu diễn bằng cái hồn nghệ thuật... Thèm lắm anh ạ!”. Anh Bảy ơi! Mong muốn ấy không phải của chỉ riêng anh.

Nguyễn Sơn

Có thể bạn quan tâm

Thơ Lê Từ Hiển: Mẹ và mùa xuân

Thơ Lê Từ Hiển: Mẹ và mùa xuân

(GLO)- Vẫn bằng thủ pháp lạ hóa với “tiếng chim nghiêng qua mái”, “bài ca chín rồi”, “hương trầm nâng khăn”…, những lời thơ trong bài “Mẹ và mùa xuân” của nhà thơ Lê Từ Hiển dạt dào xúc cảm, thổn thức nỗi nhớ thương.
Nhớ món thịt thưng

Nhớ món thịt thưng

(GLO)- Hồi nhỏ, bữa cơm Tết gia đình thường có nhiều món ăn ngon nhưng tôi thích nhất món thịt heo thưng. Thịt heo nạc đem thưng đương nhiên ngon; nhưng kỳ lạ, thịt mỡ thưng lên rồi ăn cũng rất ngon. Gia vị thấm vào khiến thịt không còn vị béo gây ngán. Vậy nên, thịt thưng ăn hao. Cũng do vậy ngày thường mẹ tôi không dám làm, chỉ có dịp Tết.
Gương mặt thơ: Hữu Kim

Gương mặt thơ: Hữu Kim

(GLO)- Anh từng là bộ đội đóng quân ở An Khê (tỉnh Gia Lai), từ thời ấy, anh đã sinh hoạt với nhóm thơ... Đà Nẵng. Rồi anh chuyển lên Kon Plông làm Phó Chỉ huy trưởng về chính trị của Huyện Đội, nhưng rồi cái tư chất thi sĩ luôn âm ỉ trong anh, khóc đấy, cười đấy. Và vẫn làm thơ. Thế là, cái việc anh được điều về làm Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Kon Tum rồi trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam như là lẽ đương nhiên. Gặp anh, không ai nghĩ người trước mặt mình từng mang quân hàm Thượng tá, mà là một thi sĩ đời... cũ.
Thơ Nguyễn Ngọc Hạnh: Lạc mất đường về

Thơ Nguyễn Ngọc Hạnh: Lạc mất đường về

(GLO)- Nỗi nhớ tuổi thơ mênh mang, thao thiết với hình ảnh gần gũi, mộc mạc, thân thương như tiếng chim dồng dộc, con dế than, đống rơm khô, con đò, bến sông, ngọn khói chiều mồ côi… được tác giả Nguyễn Ngọc Hạnh thể hiện giàu xúc cảm qua bài thơ “Lạc mất đường về“.
Gương mặt thơ: Lữ Mai

Gương mặt thơ: Lữ Mai

(GLO)- Đọc thơ nữ có cái thú riêng của nó. Lữ Mai là một trường hợp như vậy. Những quan sát rất độc đáo, kiểu như: “bạn rót trà/từ nóc nhà có làn mây sà xuống“, liên tưởng cũng chênh vênh “mùa thu vừa rơi vừa ngủ“, mà thơ thì rất cần sự chênh vênh như thế.
Thơ Đào An Duyên: Say mùa hội

Thơ Đào An Duyên: Say mùa hội

(GLO)- Thơ của tác giả Đào An Duyên luôn giàu hình ảnh. Điều đó có được từ sự quan sát tỉ mỉ, xúc cảm tinh tế. Bài thơ “Say mùa hội“ không chỉ có nhịp chiêng, vòng xoang, chàng trai, cô gái, mà còn có chồi non cựa mình, lúa đầy nhà, sàn đầy củi… tín hiệu một mùa xuân mới đang về.
Thơ Lê Vi Thủy: Chạm

Thơ Lê Vi Thủy: Chạm

(GLO)- Bài thơ “Chạm“ của tác giả Lê Vi Thủy tựa một thước phim quay chậm khi miêu tả khoảnh khắc cuối đông với chiếc lá nhẹ rơi trong gió, ánh hoàng hôn buông. Tiếp nối là những khung cảnh bình minh tươi vui, hoa vàng khoe sắc, nếp nhà thay áo mới… Thêm một lần nữa, Lê Vi Thủy thành công khi đưa sắc màu hội họa tô điểm vào những câu thơ.
Cho mướn màu xuân

Cho mướn màu xuân

Từ mấy năm trước, xứ Lục Bình xảy ra hiện tượng lạ. Tết khách tới nhà chơi, ai cũng ngạc nhiên sao bình thường gia chủ không trồng mai mà năm mới hô biến ra mấy gốc cổ thụ uốn lượn nở bông vàng rực đẹp quá chừng. Xứ này thân thiện, chủ cũng thật thà kể, mai mua về chưng hết Tết gửi đi nhờ ông Tư Nhôm dưỡng sang năm lại lấy về. Ông mát tay dữ lắm, mai ông chăm cành đầy nụ nở bừng thấy no con mắt, ông còn bảo đảm nếu ít bông ông sẽ đưa cho cây khác chưng thay. Chớ để ở nhà tự bón tự phun, dễ mai chưa dày lá đã ngủm mất tiêu, chủ nhà thở than nhìn mấy cây kiểng héo queo quanh vườn.
Bâng khuâng màu nắng

Bâng khuâng màu nắng

(GLO)- Nắng đem đến cho chúng ta biết bao cảm xúc. Tôi yêu những bình minh khi trời đông bừng lên sắc hồng. Tôi thích nhìn những ánh nắng lọt qua khe cửa, lung linh trên những khóm cây được trồng trước ban công. Tôi cũng yêu cái nắng chiều rực rỡ lung linh trên vòm cây, mặt nước, mái nhà. Trong ánh nắng vàng tươi của ngày mới, tôi cũng nhớ rất nhiều về những giọt nắng của ngày đã qua.