Khác biệt trước hết nằm ở khả năng định lượng và thu thập chứng cứ. Với phần mềm, trong nhiều trường hợp có thể xác định phiên bản, số lượng bản sao, số thiết bị cài đặt, thời gian sử dụng hoặc doanh thu từ việc khai thác trái phép. Việc sử dụng một tác phẩm âm nhạc cũng có thể được ghi nhận qua các nền tảng số, doanh thu khai thác hoặc dữ liệu thanh toán tiền bản quyền.
Trong khi đó, một bức ảnh, bài viết hay thiết kế có thể bị sao chép, phát tán trên nhiều nền tảng trong thời gian rất ngắn, nhưng việc thu thập chứng cứ để yêu cầu xử lý hoặc giải quyết tranh chấp lại không đơn giản. Theo Điều 225 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về “Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan”, việc xử lý hình sự còn phụ thuộc vào hành vi cụ thể thuộc phạm vi điều luật và các ngưỡng về thu lợi bất chính, thiệt hại hoặc trị giá hàng hóa vi phạm. Vì vậy, không ít vụ việc xâm phạm liên quan đến hội họa, nhiếp ảnh, văn học, thiết kế… được xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc giải quyết theo thủ tục dân sự do chưa đủ căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự.
Theo Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phụ thuộc vào việc đã đăng ký hay chưa. Tuy nhiên, khi tranh chấp xảy ra, việc chứng minh quá trình sáng tạo, chủ thể quyền, việc chuyển giao và phạm vi được phép khai thác có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong môi trường số, vấn đề này càng rõ hơn. Một tác phẩm có thể được đăng tải, chỉnh sửa, sao chép và phân phối qua nhiều nền tảng chỉ trong thời gian ngắn. Nếu tác giả không lưu giữ bản gốc, lịch sử chỉnh sửa, dữ liệu đăng tải, hợp đồng chuyển giao, giấy phép khai thác hoặc các dấu mốc thời gian đáng tin cậy, việc chứng minh quá trình hình thành và khai thác tác phẩm sẽ khó khăn hơn.
Nghị định số 134/2026/NĐ-CP ngày 6-4-2026, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 17/2023/NĐ-CP (quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan) đã bổ sung các quy định liên quan đến môi trường công nghệ và trí tuệ nhân tạo. Kế hoạch triển khai nghị định được Bộ VH-TT-DL ban hành sau đó, trong đó có nội dung nghiên cứu, khảo sát việc thực hiện các quy định mới liên quan đến trí tuệ nhân tạo, cho thấy quản lý và bảo vệ quyền tác giả đang đứng trước nhiều vấn đề mới.
Trí tuệ nhân tạo càng phát triển, ranh giới giữa tác phẩm, dữ liệu, quá trình sáng tạo và việc khai thác tác phẩm càng cần được làm rõ. Khi đó, bảo vệ quyền tác giả không thể chỉ trông chờ vào việc phát hiện hành vi sao chép sau khi đã xảy ra. Mỗi tác phẩm cần được định danh, lưu dấu thời gian, lưu giữ hồ sơ chứng minh quyền và ghi nhận lịch sử khai thác ngay từ đầu. Đây không phải là thủ tục làm nặng thêm hoạt động sáng tạo, mà là cách giúp tài sản vô hình được nhận diện, quản trị và bảo vệ hiệu quả hơn.
Theo Tịnh Uyển (SGGPO)