Truyện ngắn của TRẦN THU HÀ
1. Ông bà nội tôi sinh được sáu người con, đến khi đất nước thống nhất chỉ còn người con thứ năm là cha tôi nhưng theo cách gọi của người miền Trung thì cha tôi thứ sáu. Anh chị em của cha đều mất trong chiến tranh vì nhiều lý do khác nhau, các bác tôi đều mất vì bệnh khi còn nhỏ, chỉ cô Năm và chú Bảy được cha tôi nhắc đến nhiều là mất sau khi đã lập gia đình và các con đã lớn.
Quê cha tôi là một cái xóm nhỏ, lọt thỏm giữa bốn bề là núi và có cái tên như đóng đinh cho vùng đất ấy, thôn Vĩnh Viễn. Hồi nhỏ, cha tôi phải đi ở đợ cho mấy nhà giàu có trong xóm để kiếm cơm ăn. Nhà nghèo, không được đi học, cha lén học lỏm con nhà chủ vài chữ bập bà bập bõm, phải đến sau cách mạng tháng Tám năm 1945, ở độ tuổi hai mươi và tham gia cách mạng cha mới được học chữ bài bản. Nhưng năm 1954, khi được cho tập kết ra Bắc, trình độ học vấn của cha tôi mới chỉ ở mức lớp hai. Dù vậy, cha tôi nổi tiếng viết chữ đẹp và còn biết làm mấy câu thơ vần vè đọc cũng vui tai. Có lẽ thế mà nhà tuy nghèo khó cha vẫn được các ông các bà trong xóm, trong thôn để mắt, mong gả con gái cho.
Nhà ông bà Phúc xóm trên, có cô con gái út tên Tươi, tuổi đâu chừng mười chín đôi mươi. Gia cảnh cô Tươi thuộc hàng khá giả trong thôn, có của ăn của để. Cô Tươi dáng người nghỏ nhắn, có làn da trắng hồng, gương mặt bầu bĩnh và đôi mắt đen láy lúc nào cũng ươn ướt được nhắm gả cho cha tôi. Thời ấy, người lớn sắp đặt, phận làm con chỉ biết vâng lời. Vả lại, cha tôi thuộc hàng “thanh niên nghiêm túc”, chuẩn mực nên họ yên tâm. Nhưng oái oăm thay, cưới hỏi rồi mà cô Tươi vẫn nhất quyết không về nhà ông bà nội tôi ở, cứ ở nhà bố mẹ đẻ. Nghe đâu, trong lòng cô đã có người thương. Cha tôi biết vậy. Ông bà nội tôi hiền như đất, chỉ biết chép miệng thương cha. Bác Thọ, anh trai cô Tươi, là bạn anh với cha tôi và cùng cơ quan kháng chiến đôi lần nổi giận đòi cha mẹ đuổi cô Tươi về nhà chồng nhưng cha khuyên bác đừng làm thế, để cô Tươi được yên ổn ở lại nhà cha mẹ cô.
Ba tháng sau ngày cưới, cha tôi lên đường tập kết ra Bắc. Trước khi đi, cha một mình sang nhà cô Tươi thưa chuyện với ông bà nhạc. Cha có mời cô Tươi lên cùng ngồi. Cha nói:
- Thưa cha mẹ, con và em Tươi có lẽ lỗi tại duyên trời nên em không chịu về ở với con. Con không có gì để trách cha mẹ và em Tươi. Cảm ơn cha mẹ đã gả em Tươi cho một đứa có gia cảnh nghèo khó như con. Ngày mai, con lên đường ra Bắc theo sắp xếp của cách mạng, con đến chào cha mẹ và có vài lời muốn nói với em Tươi.
Ông bà Phúc đều bối rối, lộ rõ vẻ ngại ngùng. Cô Tươi thì cúi đầu, mắt nhìn chăm chăm xuống nền nhà, môi mím chặt, gương mặt lấm tấm mồ hôi. Cha tôi nói tiếp:
- Phần em Tươi, hôm nay trước mặt cha mẹ, tôi chính thức trả em về với gia đình, không còn ràng buộc hôn nhân nữa. Em ở lại, giữ gìn sức khỏe và lập gia đình với người mà em đã ước hẹn, đừng cảm thấy lăn tăn về tôi. Tôi đi lần này, không biết bao giờ mới trở lại quê. Tôi thành thật mong em có được hạnh phúc và xem em như em gái của tôi.
Nghe cha nói đến đây, cô Tươi bật khóc, ông Phúc nhìn cha ngập ngừng:
- Con... con là đứa con rể cha mẹ quý trọng. Thôi thì duyên hai đứa không đi được đến đầu bạc răng long âu cũng do số trời đã định. Cha mẹ vẫn xem con như con cháu trong nhà. Con đi mạnh khỏe, hoàn thành bổn phận cách mạng giao và xây dựng gia đình mới nghe con...
Cha tôi đáp lễ rồi đứng dậy, cúi chào ông bà Phúc và cô Tươi rồi bước đi thật nhanh ra ngõ. Hình như lúc ấy, mắt cha cũng ươn ướt nhưng lòng cha nhẹ nhõm vì vẫn giữ cho cô Tươi sự trong trắng để cô đến với hạnh phúc thực sự của mình. Sau này, lúc đầu, nghe cha kể, anh em tôi không tin nhưng khi nghe các ông bà ở quê kể câu chuyện cưới vợ của cha ở quê hồi ấy và thái độ yêu quý của anh em họ hàng nhà cô Tươi dành cho cha sau mấy mươi năm, chúng tôi mới vỡ òa cảm xúc. Quả là hiếm có. Hiếm có.
![]() |
| Tranh của họa sĩ TRƯƠNG ĐÌNH DUNG |
2. Ở miền Bắc những ngày đầu, mọi thứ đều lạ lẫm, từ giọng nói đến cách sinh hoạt nhưng là người lính cách mạng nên việc hòa nhập với cuộc sống mới chẳng có gì khó khăn với những người như cha. Tuổi ba mươi của cha là cột mốc quan trọng trong đời. Cha được phân về một trường trung cấp nông nghiệp ở Hà Tây và ở đó cha đã gặp mẹ. Cha hơn mẹ đúng một giáp, mẹ làm công việc hành chính ở trường mới được vài tháng.
Cái duyên gặp gỡ của cha mẹ cũng ngộ lắm, cha tôi tình cờ nhìn thấy mẹ trong lúc tập văn nghệ cùng các cô giáo của trường. Gương mặt trắng trẻo, mái tóc dài đen mượt thắt hai bím kéo buông trước ngực, đôi mắt đen lay láy và nụ cười hiền với hai má lúm đồng tiền của cô thủ quỹ đã khiến cha khựng lại vài giây rồi bỗng nghe tim mình loạn nhịp. Thời ấy, người ta không yêu đương lãng mạn lằng nhằng, cả miền Bắc tập trung dốc toàn tâm toàn lực khắc phục hậu quả cuộc chiến tranh vừa đi qua và hướng về miền Nam trong cơn lửa đạn. Tất cả mọi người đều không có thời gian cho chuyện hò hẹn riêng tư. Mấy tháng sau khi cân nhắc kỹ càng, nghiêm túc, cha mời cô trưởng phòng hành chính và mẹ lên phòng làm việc và ngỏ lời xin được kết đôi với mẹ. Quá bất ngờ, mẹ lúng túng:
- Em… em còn phải về hỏi… hỏi ý của bố mẹ…
Cô trưởng phòng hành chính khá bất ngờ trước quyết định của cha tôi, nhưng cô hiểu ra ngay và nhanh nhảu cất lời:
- Chị sẽ về quê gặp ông bà với em, em yên tâm.
Rồi cô hướng về phía cha tôi và nở nụ cười tinh nghịch:
- Đồng chí thủ trưởng yên tâm nhé!
Sắp xếp công việc, ngày chủ nhật tuần kế tiếp, cha tranh thủ cùng cô trưởng phòng đạp xe đạp hơn hai mươi cây số về quê mẹ để thưa chuyện với ông bà ngoại. Vừa đến đầu ngõ, cha đã nghe tiếng cười nói xôn xao phía trong nhà. Thì ra, sau khi nghe mẹ tôi trình bày về việc cha ngỏ lời cưới mẹ, ông bà biết cha là người miền Nam lại là cán bộ nhà nước thì ưng ý liền. Ông bà đã mời hết thảy cô, dì, chú, bác, anh em trong họ về cho cha ra mắt. Cảnh huống nằm ngoài dự liệu này khiến cha tôi thực sự bối rối, sau khi lấy lại bình tĩnh, cha hít một hơi thật sâu, bước vào nhà và cúi đầu chào ông bà ngoại cùng bà con họ hàng đang có mặt. Sự thân tình, niềm nở của mọi người đã khiến cha nhập cuộc rất nhanh, cái giọng miền Trung ấm áp và nụ cười đôn hậu của cha khi đặt vấn đề xin phép kết hôn với mẹ làm cho cuộc gặp mặt đầu tiên giống như ngày đoàn tụ. Không trầu cau, không lễ lộc, mẹ bẽn lẽn bước từ gian buồng bên trái ra khi ông ngoại gọi. Rồi rất đột ngột và quyết đoán, ông ngoại tôi lên tiếng ngắn gọn, dứt khoát:
- Thưa bà con nội ngoại, hôm nay tôi chính thức gả cái Hạnh cho anh Hoài đây! Con gái tôi tuy chẳng phải cành vàng lá ngọc nhưng nó là đứa tôi yêu quý nhất, hôm nay tôi giao nó cho anh và anh phải có trách nhiệm bảo bọc, yêu thương nó thay chúng tôi. Anh có làm được không?
Ông ngoại vừa nói vừa nhìn cha tôi bằng ánh mắt tin cậy. Cha tôi đứng bật dậy, dù luống cuống nhưng đáp lời ông ngoại rõ ràng và rất quan điểm:
- Cháu xin lấy danh dự của một người đảng viên, xin hứa sẽ cùng em Hạnh xây đắp hạnh phúc bền lâu ạ.
Tất cả mọi người có mặt hôm ấy đều cười vang, đồng loạt vỗ tay tán thưởng y như đang ở trong một cuộc họp. Cha không thể ngờ, ngày gặp mặt đầu tiên lại là ngày ăn hỏi mẹ. Chia tay gia đình vợ tương lai, lòng cha rạo rực. Những vòng xe lăn đều trên con đường quê nhẹ nhõm hẳn. Cha đưa mắt nhìn ra những cánh đồng lúa trĩu bông sắp vào mùa gặt, thế là cha đã có một gia đình mới trên đất Bắc để chia sẻ buồn vui. Trong giây phút hạnh phúc ấy, cha chạnh lòng khi nghĩ về ông bà nội và các em trong bom đạn chiến tranh, chẳng biết khi nào gặp lại. Rồi cha tự nhủ, ngày hòa bình rồi sẽ đến.
3. Đám cưới của cha mẹ tôi diễn ra đơn giản ở nhà ông bà ngoại, có đại diện trường cha tham dự. Chỉ có một tấm màn màu trắng căng lên với câu khẩu hiệu màu đỏ kinh điển thời ấy: “Vui duyên mới không quên nhiệm vụ” và bốn, năm bàn tiệc bánh kẹo gọi là ra mắt họ hàng. Sính lễ của cha tôi là một chiếc đĩa thủy tinh trong suốt, cha được tặng khi mới về nhận công tác ở trường. Chiếc đĩa vẫn được mẹ tôi cất giữ và nâng niu đến tận bây giờ, khi cha không còn nữa, mẹ thì tuổi đã gần chín mươi. Chiếc đĩa vẫn trong màu thủy tinh, chỉ được mẹ đem ra dùng xếp trái cây đặt lên bàn thờ ngày lễ tết hoặc giỗ chạp, sau đó mẹ lại bọc giấy báo cẩn thận cất vào ngăn tủ. Mỗi lần lấy đĩa ra, mẹ vừa dùng khăn lau sạch bóng vừa nói với anh em tôi:
- Kỷ vật ngày cưới của bố mẹ đấy! Đĩa vàng đĩa ngọc cũng không sánh được.
Nói xong, mẹ cười nhưng khóe mắt thì ngấn lệ. Cả đời cha tôi chỉ biết làm việc hết mình vì cái chung, cha là hình mẫu của thế hệ những người được gọi là “bôn-sê-vich” thời ấy. Cha gần như chẳng quan tâm đến tiền bạc. Hồi tôi còn nhỏ, có lần cha chở tôi bằng chiếc xe đạp trên quãng đường hơn ba mươi cây số về Hà Nội mà không có ý mua cho tôi một thức quà nào, dù chỉ là một ly nước si rô xanh đỏ tôi luôn ao ước. Cha là vậy, nhận lương xong là giao hết cho mẹ, mọi lo toan, tính toán trong gia đình đều một tay mẹ gánh vác, sắp đặt, điều duy nhất cha dành cho mẹ đến cuối đời là tấm tình chung thủy son sắt và sự tôn trọng tuyệt đối. Cha không hề giấu mẹ gia cảnh nghèo khó hay chuyện cha đã từng có vợ và tình cảnh oái oăm đó của mình, trước khi đi tập kết. Mẹ thấu hiểu và thương cha nhiều hơn.
4. Ba năm, sau ngày đất nước thống nhất, cha quyết định đưa cả gia đình về miền Trung quê cha sinh sống. Thôn Vĩnh Viễn gần năm mươi năm trước đã chứng kiến câu chuyện xúc động của cha và hai người vợ, sau hai mươi bốn năm xa quê. Chuyện là, cha tôi đi tập kết được chừng một năm thì cô Tươi lấy chồng, chồng cô là một thanh niên nhà nông bình thường trong thôn và họ sinh được hai người con một trai một gái. Chồng cô mất vì bạo bệnh trước giải phóng vài năm. Cô Tươi không nghĩ, cha tôi vẫn còn nhớ đến cô nên lúc cha mẹ tôi cùng bất ngờ xuất hiện trước sân nhà, khi cô đang lúi húi chuẩn bị nấu cơm trưa khiến cô sửng sốt. Cô Tươi sững người một chút rồi bối rối mời cha mẹ tôi vào nhà. Căn nhà lợp lá dừa, vách đất đơn sơ, gian giữa chỉ có bộ bàn ghế làm bằng tre đã cũ, ba chén nước chè xanh vừa hãm bốc hơi nghi ngút, gợi cảm giác thật yên lành. Ban đầu, cả mẹ tôi và cô Tươi đều có đôi chút ngại ngùng nhưng chẳng mấy chốc, giọng Bắc giọng Trung hòa vào nhau nghe thân thiết lạ. Vẫn với nụ cười ấm áp, hồn hậu ngày nào, cha tôi thăm hỏi cô Tươi chuyện quê mấy chục năm xa cách và lắng nghe trong niềm xúc động sâu xa. Hôm ấy cha mẹ tôi ở lại dùng cơm trưa với gia đình cô Tươi, bữa cơm rau mắm giản dị mà ấm áp tình quê. Kể từ hôm đó, gia đình tôi và gia đình cô Tươi kết tình thân như ruột thịt, chúng tôi gọi các con cô Tươi là anh chị, ngày giỗ chạp của họ hàng hai bên, chúng tôi đều về họp mặt.
Thực ra, khi trở về miền Trung, cha mẹ tôi được nhà nước cho chuyển về thành phố biển Quy Nhơn công tác nhưng cha một mực chọn về đúng nơi mình sinh ra. Cha nói: “Đã về đến đây rồi thì về luôn cho thỏa bao năm xa cách!”.
Mẹ thương cha nên thuận lòng nhưng khi đối mặt với thực tế, gia đình tôi khó khăn trăm bề, mẹ khóc nhiều, cha thì lúc nào cũng lạc quan cười và bảo: “Mọi khó khăn rồi sẽ qua mà...”. Khó khăn rồi cũng qua thật. Phố huyện nghèo sau ngày giải phóng từng ngày thay da đổi thịt và bây giờ, nhịp sống hiện đại đã hiện hữu khắp mọi nơi. Thôn Vĩnh Viễn của cha không còn nghèo vĩnh viễn như ngày xưa người ta vẫn nghĩ. Khắp thôn, nhà đúc san sát, đường xá đổ bê tông láng o, rộng rãi, xe máy và cả ô tô ra vào tấp nập. Duy chỉ những cánh đồng trung du bát ngát nằm giữa những dãy núi bao quanh thôn Vĩnh Viễn và tấm tình của cha với quê hương vẫn xanh một màu xanh rười rượi, bất biến với thời gian.
